Hai nhà khoa học Jean Trần Thanh Vân và Lê Kim Ngọc đã dành gần trọn đời mình để xây ba cây cầu: một cây cầu của tình thương cho trẻ mồ côi, một cây cầu khoa học và một cây cầu văn hóa - tri thức nối Việt Nam với thế giới.
Vợ chồng Giáo sư Trần Thanh Vân - Lê Kim Ngọc nhận Huân chương Bắc đẩu bội tinh. (Ảnh: Thông tin Chính phủ)
Cây cầu của lòng nhân ái
Tháng 1/1953, chàng trai 17 tuổi Trần Thanh Vân rời Đồng Hới sang Paris du học. Cú sốc đầu tiên của cậu không phải kiến thức, mà là cái lạnh cắt da của mùa đông châu Âu. Nhưng chỉ sau vài tháng, chàng trai vượt qua kỳ thi tú tài như “một bước thủ tục”. Trong học bạ, giáo viên toán viết một nhận xét đặc biệt: “Không gì có thể ngăn trở sự chăm chỉ của học sinh này”.
Cùng thời gian, ở một nơi khác của nước Pháp, Lê Kim Ngọc – cựu nữ sinh trường Marie Curie Sài Gòn - đang miệt mài vật lộn với những chương trình Sinh học bằng tiếng Pháp. Ba năm sau, cô tốt nghiệp cử nhân với danh hiệu thủ khoa.
Họ chưa biết gì về nhau. Nhưng số phận lặng lẽ đặt họ lên cùng một hành trình. Năm 1958, họ gặp nhau và từ đó không còn tách rời.
Đến đầu thập niên 1970, giữa lúc cả thế giới dồn sự chú ý vào chiến tranh Việt Nam, đôi vợ chồng trẻ ấy không thể ngồi yên trong căn phòng thí nghiệm ấm áp của Paris. Những dòng tin về hàng nghìn trẻ em mồ côi ở Việt Nam khiến họ trăn trở. Không tiền, không mạng lưới gây quỹ, họ lập hội “Giúp đỡ trẻ em Việt Nam” bằng tất cả những gì có trong tay: đôi bàn tay, trái tim và niềm tin.
Những mùa đông Paris âm 17-18°C, họ đứng ngoài phố bán từng tấm thiệp Giáng sinh do chính tay làm, in hình các bức tranh Việt Nam. Mỗi tấm thiệp là một lời nhắc về những đứa trẻ đang chờ được cứu giúp. Mỗi đồng tiền đổi được là một mầm hy vọng.
Ba năm liền như thế. Năm 1973, bằng tiền quyên góp từ những chiếc thiệp nhỏ, họ xây được Làng trẻ em SOS đầu tiên ở Đà Lạt. Rồi đến Huế năm 2000, Đồng Hới năm 2006. Hơn 300 trẻ mồ côi lớn lên từ những mái ấm ấy, nhiều người trở thành kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo.
Thành viên Làng trẻ em SOS Đồng Hới đi dã ngoại trên bãi biển. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Đó là cây cầu thứ nhất mà họ xây - cây cầu của lòng nhân ái, bắt đầu từ một Paris mùa đông và dẫn đến những đứa trẻ Việt Nam có lại một gia đình.
Từ Moriond đến Quy Nhơn
Nếu cây cầu thứ nhất được dựng bằng tình thương, cây cầu thứ hai được xây bằng tri thức và khát vọng.
Tháng 12/1965, trong lần tìm thuê một ngôi nhà gỗ ở vùng núi Moriond (Pháp) để nghỉ đông, vợ chồng ông bà phát hiện mức giá thuê cả tháng rẻ như thuê một tuần. Và thế là họ nảy ra ý tưởng táo bạo: mời 20 nhà vật lý từ Pháp, Đức, Ý, Mỹ đến cùng sống, cùng nấu ăn, trượt tuyết và nói chuyện vật lý như một gia đình.
Những cuốn sổ nhỏ gọn vừa túi áo trượt tuyết được GS Trần Thanh Vân lựa chọn kỹ càng. Trên những sườn dốc phủ tuyết, các nhà khoa học vừa trượt vừa thảo luận về những hạt cơ bản của vũ trụ. Tình bạn và tri thức hòa vào nhau trong không gian tinh khiết của núi rừng.
Các nhà khoa học tụ họp thưởng thức bữa tối fondue kiểu Thụy Sĩ theo phong cách gia đình tại hội nghị Gặp gỡ Moriond ở Méribel (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Nhà vật lý Nga Valery Rubakov từng mô tả hội nghị Moriond bằng một câu ngắn gọn: “Theo định nghĩa, những người đến đó là bạn bè”. 60 năm sau, Moriond vẫn là một trong những hội nghị vật lý được mong chờ nhất thế giới.
Năm 1993, khi Việt Nam vừa mở cửa và Mỹ còn cấm vận, GS Trần Thanh Vân tổ chức hội nghị khoa học quốc tế đầu tiên tại Việt Nam - “Gặp gỡ Việt Nam - Rencontres du Vietnam”. Trong số khách mời có cả một giáo sư Mỹ từng đoạt Nobel. “Việc một nhà khoa học Mỹ từng nhận giải Nobel đến Việt Nam giữa thời điểm ấy rất ý nghĩa”, ông nhớ lại.
Gia đình GS Trần Thanh Vân và GS Lê Kim Ngọc trong trang phục trượt tuyết, tại hội nghị Gặp gỡ Moriond những năm 1970. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Từ 1993 đến 2008, các hội nghị “Gặp gỡ Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội, TPHCM, Huế. Nhưng ông bà vẫn cảm thấy thiếu một thứ: một địa điểm mang tính biểu tượng, một nơi mà khi giới khoa học nghe đến, họ sẽ nghĩ ngay đến Việt Nam. Họ chọn Quy Nhơn.
“Điều mà Giáo sư mang đến cho chúng tôi, chúng tôi không thể mua ở đâu và với giá bao nhiêu. Đó là chất xám” - Ông Vũ Hoàng Hà, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định
Năm 2013, Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) ra đời. Kiến trúc sư Pháp Jean-Paul Viguier thiết kế, còn toàn bộ tiền tiết kiệm của hai vợ chồng được dành cho việc xây dựng. Ở tuổi ngoài 70, họ vẫn lựa chọn gây dựng tương lai hơn là nghỉ ngơi.
Từ đó đến nay, hơn 20 giáo sư đoạt Nobel đã đến Quy Nhơn. Hàng trăm nhà khoa học trẻ Việt Nam được đào tạo, kết nối quốc tế. ICISE trở thành điểm nhấn quan trọng trong hợp tác khoa học Pháp - Việt, được nhắc đến trong cuộc hội đàm giữa Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trong chuyến thăm cấp Nhà nước tháng 5/2025.
Cây cầu thứ hai - cây cầu khoa học đã thực sự nối Việt Nam với thế giới.
Lễ khởi công Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), tháng 12/2011. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)
Tri thức được trao truyền
Cây cầu thứ ba, trải dài lặng lẽ hơn. Không phải những hội nghị, không phải những tòa nhà, mà là triết lý sống họ truyền lại.
Trong thời là nghiên cứu sinh ở Paris, GS Lê Kim Ngọc chọn một đề tài tưởng như phi lý: làm nở hoa những loài cây không thể ra hoa. Giáo sư hướng dẫn Pierre Chouard tin tưởng khuyến khích, và bà thành công.
Bà nói: “Từ hôm đó tôi nghiệm ra rằng sự khai phóng trí tuệ, niềm đam mê, chuẩn mực và lòng nhiệt huyết có thể mở hầu hết các cánh cửa”. 60 năm sau, đó vẫn là triết lý sống của bà.
Còn ông Trần Thanh Vân, người đi qua tuổi trẻ trong nghèo khó, nói: “Cuộc sống không phải cho bản thân mà để xây dựng điều tốt đẹp cho tương lai".
Tại lễ nhận Huân chương Bắc đẩu Bội tinh ngày 3/10/2025 - phần thưởng cao quý nhất của Pháp - GS Lê Kim Ngọc chia sẻ: “Một thân cây đơn độc không tạo thành rừng, nhưng lá của tất cả cây cối sẽ ấp ủ mầm hạt để đơm hoa kết trái… Tiền bạc và danh vọng có thể tan biến, nhưng lòng từ bi và tình yêu được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”.
Đó chính là cây cầu thứ ba, cây cầu văn hoá - tinh thần, nơi tri thức và lòng nhân ai được trao truyền cho thế hệ mới.
Ba cây cầu này không bằng bê tông cốt thép, mà bằng tri thức, sự khiêm nhường và lòng nhân ái - những “vật liệu” bền vững hơn gấp nhiều lần, và vẫn đang được truyền qua những thế hệ tiếp nối.