Tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, cái tên Thủ khoa Huân được dùng để đặt cho trường học, đường phố, công viên hay các thiết chế văn hóa. Với không ít người, đây là một tên gọi quen thuộc nhưng lại không rõ Thủ khoa Huân là ai, sống vào thời nào, có công trạng gì mà được hậu thế trân trọng đến vậy?
Thủ khoa Huân là nhân vật lịch sử tiêu biểu của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, đồng thời là biểu tượng cho trí thức Việt Nam dấn thân vì dân tộc.
Ông tên thật là Nguyễn Hữu Huân, sinh năm 1830 tại làng Tịnh Hà, tổng Phong Phú, huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), xuất thân trong một gia đình nho học, sớm nổi tiếng thông minh, ham học và có chí lớn.
Tượng đài Thủ khoa Huân tại Mỹ Tho, Đồng Tháp. (Ảnh: Wikipedia)
Năm 1852, Nguyễn Hữu Huân tham gia kỳ thi Hương và đỗ thủ khoa, từ đó ông được mọi người gọi là Thủ khoa Huân. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm quan dưới triều Nguyễn. Tuy nhiên, con đường quan trường của ông không kéo dài, bởi biến cố lớn của đất nước đã khiến ông lựa chọn một lối đi khác.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, mở đầu bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng, sau đó đánh chiếm Gia Định và mở rộng kiểm soát Nam Kỳ. Trước cảnh đất nước bị xâm lăng, nhiều sĩ phu, trí thức không cam lòng đứng ngoài thời cuộc. Thủ khoa Huân là một trong số đó.
Ông từ bỏ con đường làm quan, trở về quê chiêu mộ nghĩa quân, tham gia phong trào kháng Pháp ở Nam Bộ. Với uy tín của một người học rộng, đỗ đạt cao và có tinh thần chính trực, Thủ khoa Huân nhanh chóng tập hợp được đông đảo nghĩa sĩ, nông dân đứng lên chống giặc.
Ông hoạt động chủ yếu ở vùng Mỹ Tho – Gò Công – Định Tường, phối hợp với nhiều thủ lĩnh nghĩa quân khác. Dù lực lượng vũ trang còn thô sơ, thiếu thốn, nhưng các cuộc khởi nghĩa mang tinh thần quật khởi, thể hiện rõ ý chí không khuất phục trước ngoại bang.
Trong quá trình hoạt động, Thủ Khoa Huân nhiều lần bị thực dân Pháp bắt. Lần bị bắt năm 1863, Nguyễn Hữu Huân từ chối mọi sự dụ dỗ và bị kết án 10 năm tù khổ sai, đày đi Cayenne, thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.
Năm 1869, Pháp ra lệnh ân xá và đưa ông về nước quản thúc, cử làm giáo thụ dạy học ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo. Tuy nhiên, ông lợi dụng điều kiện đó để liên lạc với các sĩ phu yêu nước và chuẩn bị vũ khí để khởi nghĩa. Kế hoạch bất lợi khi do thám Pháp bắt được thuyền chở vũ khí, Thủ khoa Huân đành ra lệnh giải tán, bí mật trốn khỏi nơi quản thúc, tìm cách khởi nghĩa lần thứ ba.
Lần này, người dân theo ông rất đông, có cả các hương chức, hội tề, địa chủ; địa bàn kháng chiến kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý - Cai Lậy.
Năm 1875, ông bị bắt. Sau khi dụ hàng không thành, thực dân Pháp kết án tử hình ông. Lời thơ tuyệt mệnh của Thủ khoa Huân khiến bao người kính phục: "Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị/ Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân" (Việc lớn không thành, báo chúa cũng đành liều một chết/ Lòng ngay khó tỏ, miệng đời luống để luận trăm năm).
Rất nhiều ngôi trường mang tên ông. (Ảnh: Người Lao Động)
Thủ khoa Huân được coi là biểu tượng của trí thức yêu nước Nam Bộ, với ý chí kiên cường và lòng trung nghĩa trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền, đại diện cho tinh thần dấn thân của tầng lớp trí thức trước vận mệnh dân tộc.
Trong bối cảnh nhiều quan lại chọn con đường thỏa hiệp hoặc an phận, Thủ khoa Huân đã lựa chọn từ bỏ địa vị, chấp nhận hiểm nguy để đứng về phía nhân dân. Hình ảnh một người đỗ đầu khoa bảng sẵn sàng cầm vũ khí, sống đời nghĩa sỹ đã trở thành biểu tượng đẹp của kẻ sỹ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX.