Ông Nguyễn Quang Huy, chuyên gia Kinh tế Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường Đại học Nguyễn Trãi) nhận định, sau Tết Nguyên đán, lãi suất nhiều khả năng sẽ tăng nhẹ, có kiểm soát và mang tính phân hóa.
Áp lực đến từ nhu cầu vốn trung và dài hạn, từ mặt bằng lãi suất quốc tế vẫn duy trì ở mức tương đối cao, cũng như từ yêu cầu nâng cao năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, dư địa điều hành vẫn còn, cho phép chính sách tiền tệ được vận hành linh hoạt, hài hòa giữa mục tiêu ổn định vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng.
Lãi suất khó có khả năng tăng đột biến trên diện rộng, mà sẽ điều chỉnh theo từng phân khúc, từng kỳ hạn và theo chất lượng của từng tổ chức tín dụng.
Theo ông Huy, đây không đơn thuần là diễn biến mang tính chu kỳ, mà còn phản ánh quá trình tái cân bằng chiến lược của các tổ chức tín dụng khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng mới, với nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn.
Sau giai đoạn cao điểm chi trả tiền mặt dịp Tết, dòng tiền dần quay lại ngân hàng. Tuy nhiên, ngay từ quý I, nhu cầu vốn cho sản xuất - kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng đã tăng tốc. Trong khi đó, định hướng tín dụng năm nay tiếp tục mở rộng có chọn lọc, ưu tiên lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và hạ tầng chiến lược.
Sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, mặt bằng lãi suất tăng hay giảm đang là vấn đề khiến nhiều nhà đầu tư quan tâm, trăn trở.
Để đáp ứng yêu cầu này, các ngân hàng buộc phải củng cố nguồn vốn ổn định, đặc biệt là vốn trung và dài hạn, nhằm đảm bảo an toàn thanh khoản và tuân thủ các chuẩn mực quản trị rủi ro ngày càng chặt chẽ. Điều này khiến mặt bằng lãi suất huy động khó giảm, thậm chí tiếp tục tăng nhẹ ở một số kỳ hạn.
Ông cũng đưa ra lời khuyên, đối với người dân, việc lựa chọn nơi gửi tiền không nên chỉ dựa trên con số lãi suất niêm yết, mà cần xem xét uy tín, năng lực tài chính và mức độ tuân thủ quy định của tổ chức nhận tiền gửi. Đối với doanh nghiệp, yếu tố an toàn đối tác tài chính càng trở nên quan trọng, bởi rủi ro thanh khoản hay pháp lý, dù nhỏ, cũng có thể gây tác động lan tỏa đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quản trị tài chính, lợi tức chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm với sự an toàn và bền vững của nguồn vốn.
Có góc nhìn thận trọng hơn, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Đại học Kinh tế TP.HCM) cho rằng, nếu đặt câu chuyện xu hướng lãi suất thời gian tới trong tổng thể mục tiêu điều hành vĩ mô của Việt Nam, ông cho rằng kịch bản hợp lý nhất không phải là lãi suất tiếp tục tăng mạnh hay giảm sâu, mà là duy trì mặt bằng lãi suất quanh mức hiện tại trong một trạng thái “căng bằng mong manh”.
Về mặt lý thuyết, chính sách tiền tệ luôn vận hành trên nguyên tắc đánh đổi. Khi lãi suất đã ở mức tương đối thấp so với quá khứ, dư địa nới lỏng thêm là không còn nhiều, bởi nếu tiếp tục hạ mạnh sẽ tạo áp lực lớn lên lạm phát, tỷ giá và ổn định tài chính. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có độ mở rất cao, bất kỳ sự chênh lệch quá lớn nào giữa lãi suất trong nước và quốc tế cũng có thể nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực lên dòng vốn và thị trường ngoại hối. Do đó, về mặt kỹ thuật chính sách, khả năng “hạ thêm bằng mọi giá” là rất hạn chế.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, nếu nhìn từ mục tiêu phát triển, Việt Nam lại đang đứng trước một yêu cầu rất khác: duy trì tăng trưởng cao, thậm chí hướng tới tăng trưởng hai con số trong trung hạn. Muốn đạt được điều này, chi phí vốn không thể bị đẩy lên quá cao, bởi khu vực doanh nghiệp – đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân và khu vực sản xuất – vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Trong điều kiện thị trường vốn chưa đủ sâu và rộng để thay thế vai trò của tín dụng, lãi suất cao sẽ nhanh chóng bóp nghẹt động lực đầu tư và mở rộng sản xuất. Đây chính là mâu thuẫn cốt lõi mà chính sách tiền tệ phải xử lý trong giai đoạn tới.
"Trong năm tới, tôi nghiêng về kịch bản lãi suất tiếp tục được duy trì quanh mặt bằng hiện tại. Dư địa nới lỏng không còn nhiều, nhưng yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng cao buộc chính sách tiền tệ phải giữ lãi suất ở mức đủ thấp và ổn định. Trọng tâm điều hành vì thế sẽ không nằm ở việc “hạ hay tăng lãi suất”, mà ở khả năng phối hợp chính sách, kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả truyền dẫn của tín dụng đối với tăng trưởng thực chất của nền kinh tế", ông Huân nhận định.
Mặt bằng lãi suất tiếp tục đi lên
Hiện mặt bằng lãi suất tiết kiệm tiếp tục duy trì ở mức cao. Đơn cử, NCB đang áp dụng chính sách cộng thêm tới 2%/năm cho khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, hiệu lực đến hết ngày 31/1/2026. Nhờ đó, lãi suất kỳ hạn 6-8 tháng đạt tới 8,2%/năm; 9-11 tháng lên tới 8,25%/năm; còn 12-36 tháng đạt 8,3%/năm.
Mặt bằng lãi suất có xu hướng đi lên. (Ảnh minh hoạ).
Tại PVcomBank, khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến vào ngày thứ Sáu hàng tuần được cộng thêm tới 1,5%/năm. Với số tiền gửi tối thiểu 100 triệu đồng và kỳ hạn từ 12 tháng, lãi suất có thể đạt 7,6%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, 7,8%/năm cho kỳ hạn 13 tháng và lên tới 8,3%/năm cho các kỳ hạn từ 15-36 tháng.
Đặc biệt, ngoài lãi suất cộng thêm, nhiều nhà băng áp dụng hình thức lì xì tiền mặt, quay số trúng thưởng hoặc tặng quà may mắn đầu xuân cho khách hàng gửi tiết kiệm, phản ánh áp lực thanh khoản dịp đầu năm mới.
Đơn cử như Cake by VPBank, nhà băng này cộng thêm 0,9%/năm cho khách hàng lần đầu mở tiền gửi có kỳ hạn trên ngân hàng số từ 1/2 đến 28/2. Đồng thời, mọi khoản tiết kiệm online kỳ hạn 6 tháng trong giai đoạn 20/1 – 28/2 được cộng thêm 0,3%/năm.
Khách hàng mở sổ từ 2,5 triệu đồng được nhận 5 lượt mở bao lì xì, giá trị tối đa 888.000 đồng. Ngoài ra, ngân hàng thưởng tiền trực tiếp theo giá trị khoản gửi, cao nhất 26 triệu đồng.
Theo giới chuyên gia, đợt tăng lãi suất kéo dài từ cuối năm 2025 đến nay chủ yếu xuất phát từ nhu cầu vốn cao theo mùa vụ và áp lực chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Khi giai đoạn cao điểm vốn qua đi và thanh khoản hệ thống ổn định hơn, mặt bằng lãi suất được dự báo sẽ dần điều chỉnh về vùng hợp lý hơn trong thời gian tới.