Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, công tác chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiên phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Tổng Bí thư yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc, nhất quán 4 kiên định về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Để thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, ngày 8/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 19 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong đó nhấn mạnh việc lấy mục tiêu kiên trì bảo vệ và phát huy “4 kiên định” làm định hướng hành động. Vậy “4 kiên định” có ý nghĩa thế nào và sẽ tạo động lực ra sao để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới?
Phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang xung quanh nội dung này.
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang.
- Thưa Giáo sư, ông nhìn nhận thế nào về thông điệp “4 kiên định” được Tổng Bí thư nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 2?
Chúng ta vừa trải qua một kỳ đại hội mang tính lịch sử, ghi dấu ấn đặc biệt trong tiến trình phát triển của Đảng và dân tộc, mở ra kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh thế giới đầy biến động, khó lường, với tốc độ nhanh và mức độ phức tạp cao.
Trong bối cảnh đó, đất nước đòi hỏi phải phát triển với tốc độ nhanh, cường độ mạnh. Muốn vậy, một yêu cầu rất quan trọng là phải củng cố nền tảng chính trị, tư tưởng một cách mạnh mẽ.
“4 kiên định” nhằm khẳng định rõ ràng, đầy đủ và tăng cường nhận thức, qua đó tạo sự thống nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV đề ra.
- Một nội dung cốt lõi là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo ông, điều này cần được hiểu thế nào?
Tinh thần cốt lõi ở đây là kiên định không đồng nghĩa với giáo điều. Nếu hiểu kiên định là giữ nguyên, không thay đổi thì sẽ rất dễ rơi vào máy móc. Thực tế, kiên định luôn gắn với sáng tạo, đổi mới. Bài học lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam là trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phải vận dụng sáng tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính sự sáng tạo này đã làm nên thành công của cách mạng Việt Nam, thậm chí được bạn bè quốc tế kính phục.
Tôi còn nhớ cách đây không lâu, một Giáo sư Nhật Bản nhận giải thưởng Bảo Sơn. Trong đó có một luận điểm được đánh giá cao là Đảng Cộng sản Việt Nam mà một tổ chức cộng sản một lúc dâng cao 2 ngọn cờ một cách rất tài tài. Đó là ngọn cờ Quốc tế và ngọn cờ dân tộc.
Nếu như dân tộc cực đoan thì chưa chắc có sự hội nhập quốc tế tốt như vậy. Nhưng quốc tế cực đoan thì bỏ rơi ngọn cờ dân tộc. Kinh nghiệm đã có Đảng cộng sản thất bại. Do vậy, kiên định ở đây là linh hoạt nhưng không vi phạm nguyên tắc - đó chính là bí quyết thành công.
gs-vu-minh-giang (1).jpg
“4 kiên định” nhằm khẳng định rõ ràng, đầy đủ và tăng cường nhận thức, qua đó tạo sự thống nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV đề ra.
GS.TS Vũ Minh Giang
- Theo ông, vì sao kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được xem là xuyên suốt và có ý nghĩa chiến lược đối với con đường phát triển của Việt Nam?
Ngay từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, quốc hiệu gắn với tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đã thể hiện rõ bản chất của nhà nước cách mạng: giữ vững độc lập và mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Kiên định mục tiêu này không phải là giữ một mô hình cứng nhắc, mà là hướng tới một xã hội phát triển, nơi người dân được ấm no, hạnh phúc, đất nước phồn vinh, hùng cường.
Và như Hồ Chí Minh từng khẳng định, khát vọng lớn nhất trong cuộc đời lãnh đạo cách mạng của Người là làm sao để nhân dân được sống trong độc lập, tự do, ấm no và hạnh phúc. Điều đó cho thấy, mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải xuất phát từ thực tiễn đất nước, hướng tới nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm sự phát triển bền vững.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi lợi ích giữa các quốc gia ngày càng đan xen, cạnh tranh và va chạm phức tạp, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là định hướng phát triển mà còn là cơ sở để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thực tiễn cho thấy, Đảng chỉ có thể vững mạnh khi gắn bó mật thiết với nhân dân. Lòng tin của nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng. Một tổ chức chính trị có thể trường tồn và phát triển bền vững là bởi luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
Vì vậy, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc không chỉ là nguyên tắc mang tính chiến lược, mà còn là giá trị thiêng liêng, giữ vai trò nền tảng trong việc hoạch định đường lối và định hướng phát triển của Đảng.
- Sau gần 40 năm đổi mới, việc kiên định đường lối đổi mới cần được phát huy ra sao, thưa ông?
Nếu như lịch sử Việt Nam khiến bạn bè quốc tế nể phục bởi một dân tộc anh hùng, kiên cường vượt qua những thử thách hiểm nghèo để chiến thắng các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, thì sự nghiệp đổi mới lại đưa vị thế đất nước lên một tầm cao mới.
Việt Nam hôm nay không chỉ mạnh về “lực” mà “thế” - tức vị thế quốc gia - cũng được nâng lên rõ rệt. Thương hiệu quốc gia ngày càng được khẳng định, thậm chí được đánh giá cao hơn cả tiềm lực kinh tế. Những thành tựu đó cho thấy con đường đổi mới suốt hơn 40 năm qua là đúng đắn và thành công.
Vì vậy, việc tiếp tục kiên định đường lối đổi mới là yêu cầu mang tính nguyên tắc. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh và cạnh tranh gay gắt, sẽ không có chỗ cho những quốc gia chần chừ, thiếu quyết đoán trong đổi mới. Trên nền tảng chính trị đã được xác lập, kiên định đổi mới là nguyên tắc cực kỳ quan trọng cho toàn Đảng về mặt tổ chức, và cho tất cả các đảng viên cũng như lan toả trong toàn dân.
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
- Việc kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng có ý nghĩa như thế nào trong việc giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nâng cao năng lực lãnh đạo cầm quyền của Đảng, thưa ông?
Đến năm 2030, lịch sử của Đảng tròn 100 năm - một thế kỷ lãnh đạo cách mạng của một tổ chức tiên phong. Trong chặng đường gần một thế kỷ ấy, Đảng đã lập nên nhiều kỳ tích; như Hồ Chí Minh từng khẳng định, lịch sử Đảng là “một pho lịch sử bằng vàng”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, cũng có những sai lầm để lại bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình lãnh đạo.
Thực tiễn đặt ra một vấn đề mà nhiều đảng cầm quyền trên thế giới đều gặp phải: khi đấu tranh giành chính quyền, Đảng viên sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng; nhưng khi cầm quyền, quyền lực gắn liền với lợi ích, rất dễ dẫn đến nguy cơ tha hóa quyền lực. Cốt lõi của bài toán này chính là công tác cán bộ và việc giữ vững các nguyên tắc tổ chức - yếu tố quyết định sức mạnh và sức chiến đấu của một tổ chức chính trị.
Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục củng cố, siết chặt đội ngũ để xây dựng tổ chức thực sự vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên mới.
Không chỉ dừng ở “trong sạch”, mà còn phải “vững mạnh” - tức vừa bảo đảm phẩm chất, vừa nâng cao năng lực. Hai yếu tố này có liên hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất: trong sạch là không tham nhũng, còn vững mạnh đòi hỏi phải có trình độ, năng lực và được tổ chức, vận hành theo những nguyên tắc khoa học.
Vì vậy, kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng không chỉ nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương, mà còn hướng tới xây dựng một tổ chức đủ tầm đáp ứng yêu cầu mới. Trong kỷ nguyên số, nếu đội ngũ lãnh đạo thiếu năng lực về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thì khó có thể dẫn dắt sự phát triển.
Tuy nhiên, năng lực cá nhân thôi là chưa đủ; nếu thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật thì tổ chức cũng khó phát huy sức mạnh. Do đó, cần đồng thời nâng cao phẩm chất, năng lực của từng cán bộ, đảng viên và củng cố chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức, bảo đảm mỗi người đều nhận thức sâu sắc và thực hiện nghiêm túc yêu cầu của “kiên định” trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục củng cố, siết chặt đội ngũ để xây dựng tổ chức thực sự vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên mới.
GS.TS Vũ Minh Giang
- “4 kiên định” có ý nghĩa thế nào đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển đến năm 2030, 2045?
Theo tôi, các mục tiêu mà Đại hội XIV đề ra là hết sức lớn lao và đầy thách thức. Để đạt được những mốc phát triển trong thời gian không còn nhiều, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao, thậm chí hai con số - điều vốn đã rất khó nếu chỉ xét riêng về kinh tế.
Trong khi đó, phát triển quốc gia không chỉ dừng ở tăng trưởng, mà còn bao gồm nâng cao đời sống Nhân dân, bảo đảm tiến bộ xã hội, môi trường và nhiều yêu cầu khác. Để hiện thực hóa những mục tiêu có tính tham vọng cao này, trước hết cần củng cố toàn diện vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều cốt lõi là phải giữ vững, không dao động về định hướng chính trị, kiên định nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, sự kiên định đó phải gắn liền với sáng tạo, bởi không có một mô hình phát triển sẵn có nào áp dụng chung cho mọi quốc gia; mỗi dân tộc đều phải tìm con đường phù hợp với hoàn cảnh của mình. Cùng với đó, tinh thần đổi mới cần được tiếp tục đẩy mạnh mạnh mẽ, không ngập ngừng, không chững lại. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, đưa dân tộc tới phồn vinh, coi đó là lẽ sống và động lực hành động.
Trong bối cảnh hiện nay, để triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV, mỗi đảng viên - đặc biệt là những người giữ trọng trách trong bộ máy lãnh đạo - càng phải nhận thức sâu sắc hơn về sứ mệnh, trách nhiệm của mình.
- Trân trọng cảm ơn ông!