Đóng

21 tuổi đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành mang theo lòng yêu nước tận cùng

(VTC News) -

21 tuổi, cái tuổi còn khá trẻ so với những người cùng trang lứa, nhưng Nguyễn Tất Thành đủ độ chín, độ đằm của một thanh niên giàu lòng yêu nước, từng được sống, học tập, nhìn thời cuộc ở nơi nóng bỏng nhất: An Tĩnh, Huế, Bình Định, Sài Gòn.

Bài viết của PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ nhân 115 năm Bác Hồ đi tìm đường cứu nước từ bến Nhà Rồng. 

Nguyễn Tất Thành - Người yêu nước đến tận cùng

Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên khi nước ta bị thực dân Pháp xâm lăng, bóc lột, nhân dân ta bị nô lệ, lầm than. Quê hương Nam Đàn nói riêng, xứ Nghệ nói chung có truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng hết sức vẻ vang. Đất Nam Đàn có dòng sông Lam và những ngọn núi kỳ vĩ Thiên Nhẫn, Đại Huệ, Hùng Sơn, Chung Sơn. La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp - vị quân sư xuất chúng của Hoàng đế Quang Trung đã viết về ngọn núi Chung ngay trước làng Chùa, làng Sen: "Chung Sơn tam đỉnh hình vương tự, Kế thế anh hùng vượng tử tôn" (Ba đỉnh của núi Chung có hình chữ Vương, đất này đời đời con cháu nổi lên những anh hùng). 

Đứng ở núi Chung, phóng tầm mắt về bốn phương tám hướng, đâu đâu cũng đẹp, đâu đâu cũng đậm chất sử thi, anh hùng. Phía tả sông Lam là nơi sinh ra Anh hùng dân tộc Mai Hắc Đế, cố hương của Hoàng đế Quang Trung, quê hương của Cương quốc công Nguyễn Xí, Trạng nguyên Bạch Liêu, Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, ông Nghè phong trào Cần vương Nguyễn Xuân Ôn, chí sĩ Phan Bội Châu…; phía hữu sông Lam là quê hương của hương của Đặng Dung, Đặng Tất, Nguyễn Huy Tự, Thánh Tả Ao, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng…

Thời gian 10 năm sống và học tập ở quê nhà, tiếp đó là 10 năm sống ở Kinh đô Huế - trung tâm chính trị, văn hóa của đất nước, Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc ở mức độ khác nhau với các trào lưu văn hóa mới, với phong trào yêu nước, cách mạng Đông Du, Duy Tân, giúp anh có những cảm nhận và hiểu biết hơn người.

Nhìn lại phong trào Cần Vương, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo; Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu đứng đầu; Phong trào Đông Kinh Nghĩa thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và nhiều sĩ phu khác; cuộc khởi nghĩa Yên Thế của thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám; cuộc vận động cải cách của Phó bảng Phan Châu Trinh…, Nguyễn Tất Thành tỏ rõ sự khâm phục và kính trọng các bậc tiền bối, nhưng anh chưa đủ, không đủ lòng tin với những nẻo đi của họ.

Thực tiễn thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiều câu hỏi và tác động đến chí hướng của Nguyễn Tất Thành, để rồi anh có một quyết định chính xác và táo bạo là xuất dương tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911.  

Lúc này Nguyễn Tất Thành 21 tuổi, cái tuổi còn khá trẻ so với những người cùng trang lứa, nhưng đủ độ chín, độ đằm của một thanh niên giàu lòng yêu nước, từng được sống, học tập, nhìn thời cuộc ở nơi nóng bỏng nhất: An Tĩnh, Huế, Bình Định, Sài Gòn.

Trước chuyến đi của Nguyễn Tất Thành - Văn Ba năm 1911, ông Phan Bội Châu, một người Nam Đàn đã chọn con đường sang Nhật Bản, nhưng nước Nhật “đồng chủng”,”đồng văn” đang xâm lược Trung Quốc, Triều Tiên, ra lệnh trục xuất chính Phan và các du học sinh Việt Nam yêu nước.

Cải cách của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc thất bại, cho thấy Trung Quốc không thể đi theo con đường Duy Tân của Nhật Bản. Cách mạng Tân Hợi (1911) của Tôn Văn tuy lật đổ được ngai vàng đế chế, nhưng đã không cởi bỏ được quyền chiếm hữu ruộng đất và ách bóc lột của địa chủ phong kiến, ách nô dịch của đế quốc tư bản nước ngoài.

Nhiều trí thức Việt Nam đương thời cũng sang Pháp, có người chỉ lo học hành, kiếm sống, làm giàu; có người vừa học chữ, vừa tìm đường cứu nước, cứu dân. Cụ Phó bảng Phan Chu Trinh và Luật sư, Tiến sĩ Phan Văn Trường tiêu biểu cho nhóm thứ hai. Tuy sống ở Pháp nhiều năm, từng tiếp xúc với các lực lượng cánh tả Pháp, vậy mà các ông vẫn không tìm được con đường đúng đắn cho mình và cho dân tộc. 

Ở Pháp, Nguyễn Tất Thành - Văn Ba vừa lao động kiếm sống, vừa tham gia các hoạt động yêu nước.  Năm 1918, anh gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Ngày 18 tháng 6 năm 1919, nhân danh một nhóm người Việt Nam yêu nước, trong đó có Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, anh lấy tên Nguyễn Ái Quốc gửi "Yêu sách của nhân dân An Nam", gồm tám điểm, được viết bằng tiếng Pháp (Revendications du peuple annamite), gửi tới Hội nghị Hòa bình Versailles, đòi chính phủ Pháp ân xá chính trị phạm, thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

Người còn gửi thư riêng kèm theo bản yêu sách cho các đoàn đại biểu Đồng Minh dự hội nghị, nhưng không gây được nhiều sự chú ý.

Theo báo cáo của Trung ương Đảng Xã hội Pháp thì năm 1913 đã có 7 người Việt Nam vào Đảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Đảng này, nhưng đến năm 1920 chỉ còn 20 người, duy chỉ có Nguyễn Ái Quốc (vào Đảng Xã hội Pháp năm 1918) trở thành người cộng sản[1].

Phan Châu Trinh, trong một bức thư đề ngày 18 tháng 2 năm 1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc đang ở Pa-ri, đã viết: “Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu…Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê”.

Phan Châu Trinh ví Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế trong đám dân tình, chí sỹ nước ta”[2].

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và các và các vấn đề thuộc địa của V.I. Lenin đăng trên báo L'Humanité (cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp).

Sự gặp gỡ, tiếp xúc lịch sử ấy hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên, may mắn. Đó là sự chủ động dấn thân, chủ động tìm đường, chọn đường, một tất yếu khách quan mang tính khoa học và cách mạng. Người thấy được một trong những ý nghĩa quan trọng của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) là đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức, đã "mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”[3].  

Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương, là một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Sau này, Người thừa nhận: "Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III"[4].

Nguyễn Ái Quốc - Người Cộng sản đặc sắc Việt Nam

Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies). Năm 1922, Người cùng các đồng chí của minh ra báo Le Paria (Người cùng khổ). Ngay bài viết cho số đầu tiên, Người khẳng định sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”. Tờ này ra được 38 số với mỗi số bán được quãng 1000 tới 5000 bản, một con số khá ấn tượng lúc bấy giờ.

Người cũng viết bài cho một số tờ báo tiến bộ khác. Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (Le procès de la colonisation française) do Người viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Người là Trưởng Tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản Pháp.

Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô. Trên đất nước của Lê-nin, Người dày công học tập, nghiên cứu mong có ngày trở về Tổ quốc để giải phóng nước mình, mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nếu như C. Marx bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V.I. Lenin quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Nguyễn Ái Quốc hết sức coi trọng đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Nhà thơ, nhà báo Liên Xô Osip Emilyevich Mandelstam, trong bài viết: “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản - Nguyễn Ái Quốc”, tạp chí Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923, ghi lại lời Nguyễn Ái Quốc: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm những gì ẩn dấu đằng sau những từ ấy...”… “Thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích” và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn không có ngay cả trong ý niệm; và như vậy chính chúng đã tuyên truyền cho chủ nghĩa Bônsêvích và Lênin”.

Osip Emilyevich Mandelstam viết tiếp: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”… “Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.

Trong Tham luận trình bày tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924), Nguyễn Ái Quốc chỉ ra sự bành trướng của hệ thống thuộc địa: "Năm 1876: 1/4 tỷ người dân thuộc địa thì năm 1914: 1/2 tỷ dân thuộc địa. Đến đầu những năm 20, diện tích các nước thuộc địa gấp 5 diện tích các nước chính quốc, còn dân số chính quốc chưa bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa. Số dân thuộc địa Anh đông gấp hơn 8,5 số dân nước Anh còn đất đai rộng gấp 252 lần của nước Anh...".

Ngày 23/6/1924, phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh: “Tôi đến đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn có cả nguy cơ của các thuộc địa.

Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”.

“Nọc độc và sức sống của của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa". “Bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng, đề ra kế hoạch của cuộc chiến đấu sắp tới, các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: hãy chú ý!”.   

Ngày 1/7/1924, tại phiên họp thứ 22 Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, Người phê phán các Đảng Cộng sản ở Pháp, Anh, Hà Lan, Bỉ và các Đảng Cộng sản ở các nước có thuộc địa chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, trong khi giai cấp tư sản các nước đó đã làm tất cả để kìm giữ các dân tộc bị chúng nô dịch trong vòng áp bức”[5].

Trong thời gian ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tranh thủ viết bài cho các báo Nhân đạo (L’Humanité), Đời sống công nhân (La Vie Ouvrière), Sự thật (Pravda), Người cùng khổ (Le Paria), Thư tín quốc tế (Inprékor), Tạp chí Cộng sản vv.v.. Các bài báo tập trung nói về các vấn đề liên quan đến giai cấp công nhân, đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các thuộc địa, mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa.

Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, Trung Quốc trong tên gọi Lý Thụy, Người làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc.

Thời gian này, Người cũng gặp mặt một số nhà cách mạng người Việt đang sống và hoạt động cách mạng trên đất Trung Quốc, trong đó có bậc tiền bối Phan Bội Châu và một số thành viên của Tâm Tâm xã - một tổ chức cấp tiến hoạt động từ 1923 như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lâm Đức Thụ, Nguyễn Giản Thanh, Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu, Nguyễn Công Viễn…; đến đầu năm 1924, nhóm có thêm Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái.

“Đường Kách mệnh” - đường của Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội

Năm 1925, trong tên mới là Vương, Người đã lựa chọn những người tích cực của Tâm Tâm xã, huấn luyện họ và trên cơ sở đó, lập ra Cộng sản đoàn, rồi từ Cộng sản đoàn lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (vào tháng 6 năm 1925). Hội cho thành viên của mình về nước vận động và đưa thanh niên sang Quảng Châu đào tạo, huấn luyện.

Cho đến năm 1927, Hội mở được 3 khoá với khoảng 10 lớp, đào tạo được 75 hội viên, mỗi khóa học kéo dài 2-3 tháng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng lớp, các ông Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn phụ giảng.

Hội cử người của mình là Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bùi Công Trừng, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng, Nguyễn Sơn hoặc đi học tại Đại học Phương Đông (Liên Xô) hoặc Trường Quân chính Hoàng Phố của Quốc dân Đảng Trung Quốc, có một số trong đó học cả hai trường.

Người cho ra tờ báo Thanh niên làm cơ quan phát ngôn của Hội, người là chủ nhiệm kiêm chủ bút; tính đến tháng 2 năm 1930, tờ báo này ra được 208 số. Cùng trong năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm Hội trưởng và Người làm Bí thư. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp học được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tập hợp lại và in thành cuốn sách có tên gọi là “Đường Kách mệnh”, phát hành đầu năm 1927.  

PGS.TS, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ ra mắt nhiều bộ sách khảo cứu quan trọng về văn hoá Việt Nam. Ông cũng ra mắt các cuốn tiểu thuyết được giới chuyên môn và độc giả đánh giá cao “Chuyện tình Khau Vai”, "Hừng Đông" được chuyển thể thành 2 vở cải lương cùng tên, riieng "Chuyện tình Khau Vai" đang được hãng phim truyện Việt Nam dựng thành bộ phim truyện điện ảnh, sẽ ra mắt công chúng khoảng 2-3 tháng tới.

Đặc biệt, năm 2025, ông cho ra mắt trọn bộ tiểu thuyết “Nước non vạn dặm” gồm 5 tập: “Nợ nước non” - năm 2022; “Lênh đênh bốn biển” - năm 2023; “Từ Việt Bắc về Hà Nội” - đầu năm 2024, “Đường lên Điện Biên” - cuối năm 2024 và “Việt Nam - Hồ Chí Minh” - năm 2025. Các tập của bộ tiểu thuyết lần lượt ra mắt bạn đọc trong gần 5 năm.

Đây là bộ tiểu thuyết ông ấp ủ, chuẩn bị và thực hiện trong 20 năm, bằng các công trình nghiên cứu lịch sử, chính trị, văn hóa… công phu, nghiêm túc; bằng sự trải nghiệm, tích lũy vốn sống nhiều năm ở quê hương Nghệ An và nhiều vùng đất trong, ngoài nước và trên tất cả là niềm yêu kính vô bờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ông là Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XII, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam.

“Đường Kách mệnh” xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; khẳng định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, đó là dân tộc kách mệnh (quốc gia) và kách mệnh xã hội chủ nghĩa (quốc tế). “Đường Kách mệnh” giới thiệu tính chất và kinh nghiệm các cuộc cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp (1789), Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và khẳng định chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga là triệt để, đi tới thành công. Cuốn sách cũng giới thiệu tóm tắt về Quốc tế I, Quốc tế II; phê phán đường lối phi mác xít của những kẻ cơ hội trong Quốc tế II.

Người cho rằng cách mạng Việt Nam là bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới và để đảm bảo sự thắng lợi đó, nó phải dựa vào Quốc tế III, tức Quốc tế Cộng sản.[6]

Về đảng chính trị, Nguyễn Ái Quốc khẳng định đảng Kách mệnh, đảng Cộng sản là nhân tố quyết định sự thành công của kách mệnh. Tác giả xác định khái niệm lực lượng kách mệnh qua các tiêu chí "bị áp bức": "ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng kách mệnh càng bền, chí kách mệnh càng quyết" nên "công nông là gốc kách mệnh", không chỉ vì họ chiếm số đông trong dân chúng mà cơ bản là họ bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, tàn bạo nhất.

“Đường Kách mệnh” phác thảo mô hình nhà nước trong tương lai khi kách mạng thành công. Theo Nguyễn Ái Quốc, muốn dân tộc được độc lập, nhân dân lao động khỏi thân phận người nô lệ thì phải làm kách mệnh một cách triệt để, không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, không thể thiết lập mô hình nhà nước cộng hòa tư sản, nơi chính quyền chủ yếu thuộc về giai cấp hữu sản, Người khẳng định: “Chúng ta đã hy sinh làm kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[7].

Nguyễn Ái Quốc coi "học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn kách mệnh của công nông", để kách mệnh thành công, phải coi học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ đều là bầu bạn của kách mệnh. Tư tưởng này của Người trong đầu thập niên 1930 đã vấp phải sự phê phán của một số người cộng sản Việt Nam khác. Ngoài ra, trong thập niên 1920, một trong những quan điểm của Người về cách mạng là: cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Tháng 5 năm 1927, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, Người rời Quảng Châu đi Hồng Kông, rồi sang Moskva.

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ phát biểu tại Hội thảo khoa học quốc tế: “Từ Đường cách mệnh năm 1927 đến kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc”. (Ảnh: Ban tổ chức)

Mùa thu 1928, Nguyễn Ái Quốc từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín. Giống như tại nhiều nơi đã hoạt động, Người cho in báo Thân ái. Cuối năm 1929, Người rời Thái Lan, theo ngả Singapore để sang Trung Quốc.

Ngày 3/2/1930 (hoặc ngày 6/1/1930), tại Cửu Long, thuộc Hương Cảng, Nguyễn Ái Quốc trong danh nghĩa đại diện cho Quốc tế Cộng sản đã thống nhất ba tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện quan trọng nhất: Chính cương vắn tắt, Sách lược, Điều lệ vắn tắt của Đảng, Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng của Hội nghị này đều do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo.

Sau 30 năm đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Từ Việt Bắc, hào khí cách mạng lan rộng và sục sôi trong cả nước. Sáng ngày 19/8/1945, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường mít tinh, biểu dương lực lượng, tiến vào chiếm Phủ Khâm sai, trại lính bảo an và các cơ sở của Chính phủ bù nhìn. Nhiều địa phương trong nước cũng vùng lên giành chính quyền.

Chiều ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn nhân dân, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Chặng đường gần 30 năm tiếp theo, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã “đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để đi tiếp hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và để quốc Mỹ xâm lược, thu giang sơn về một mối, bảo vệ vững chắc biên giới, hải đảo của Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tất cả vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

[1] Trần Ngọc Giản: Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước và việc xác định hướng đi tìm chân lý cứu nước của Bác Hồ, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh”, NXB Nghệ Tĩnh, tháng 3/1990, tr 146.

[2] Bác Hồ với đất Quảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.

[3]Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 8, tr. 563.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sách đã dẫn, t 10, trang 126-128 (Bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin”, đăng trên Tạp chí Các vấn đề phương Đông, Liên Xô, 1960, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh V.I. Lê-nin).

[5] Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, t.1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 238-279.

[6] Phạm Xanh (ngày 6 tháng 12 năm 2017). "Cuốn Đường Kách Mệnh của Nguyễn Ái Quốc: Sự xuất hiện và hành trình (Phần 2)".

[7]  Hồ Chí Minh toàn tập, sách đã dẫn, H.2011, tập 2, tr 11

PGS. TS Nguyễn Thế Kỷ

Tin mới