Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Thủ tướng Lê Minh Hưng, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae sẽ thăm chính thức Việt Nam từ ngày 1-3/5/2026.
Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae sinh ngày 7/3/1961 tại tỉnh Nara, Nhật Bản. Bà tốt nghiệp cử nhân ngành kinh doanh, Đại học Kobe, Nhật Bản; lần đầu trúng cử Hạ nghị sĩ năm 1993.
Bà từng giữ chức vụ Bộ trưởng phụ trách vấn đề Okinawa và Lãnh thổ phương Bắc, đổi mới sáng tạo, ứng phó tỷ lệ sinh giảm, an ninh lương thực, kiêm nhiệm Bộ trưởng phụ trách chính sách khoa học, công nghệ; Bộ trưởng Nội vụ và Truyền thông, Bộ trưởng phụ trách An ninh kinh tế, kiêm nhiệm Bộ trưởng phụ trách chính sách khoa học, công nghệ, vũ trụ, sở hữu trí tuệ,...
Bà là Chủ tịch thứ 29 của Đảng Dân chủ tự do Nhật Bản từ tháng 10/2025 đến nay và là Thủ tướng thứ 104 của Nhật Bản.
Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae. (Ảnh: Reuters)
Việt Nam và Nhật Bản đã lần lượt xác lập khuôn khổ quan hệ từ Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài (năm 2002) lên Đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở Châu Á (năm 2009), Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở Châu Á (năm 2014) và Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới ngày 27/11/2023.
Hai bên sau đó đặt các cơ quan đại diện ngoại giao. Tại Việt Nam: Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại Tp. Hồ Chí Minh, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại Đà Nẵng. Tại Nhật Bản: Đại sứ quán Việt Nam tại Tokyo (1975), Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka (3/1997), Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka (4/2009).
Trải qua các giai đoạn, lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực.
Trong đó, các lãnh đạo Nhật Bản thăm Việt Nam bao gồm: Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam tổng cộng 13 lần; Chủ tịch Hạ viện thăm Việt Nam tháng 01/2002 và tháng 5/2017; Chủ tịch Thượng viện thăm tháng 12/2015 và tháng 9/2023.
Nhà vua Akihito và Hoàng hậu (đã thoái vị, hiện là Thượng Hoàng) thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 28/02 - 5/3/2017. Hoàng Thái tử Naruhito (Nhà vua hiện nay) thăm chính thức Việt Nam tháng 2/2009. Hoàng tử Akishino (Hoàng Thái tử hiện nay) thăm chính thức Việt Nam tháng 6/1999 và thăm với tư cách cá nhân tháng 8/2012; sau khi trở thành Hoàng Thái tử cùng Công nương thăm chính thức Việt Nam tháng 9/2023.
Các lãnh đạo Việt Nam thăm Nhật Bản: Tổng Bí thư ta thăm Nhật Bản 4 lần; Chủ tịch nước thăm Nhật Bản 4 lần; Thủ tướng Chính phủ thăm Nhật Bản 21 lần, trong đó Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm 03 lần; Chủ tịch Quốc hội thăm Nhật Bản 5 lần.
Việt Nam - Nhật Bản có nhiều cơ chế hợp tác thường niên quan trọng: Ủy ban Hợp tác Việt - Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch (từ 2007, đã họp 12 lần); Ủy ban hỗn hợp về thương mại, năng lượng và công nghiệp (từ 2015); Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản; Đối thoại Nông nghiệp cấp Bộ trưởng (từ 2014); Ủy ban hỗn hợp về Khoa học công nghệ (cấp Bộ trưởng); Đối thoại cấp Thứ trưởng Đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản về ngoại giao - an ninh - quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao (từ 2010, đã họp 08 lần) được nâng cấp lên Đối thoại 2+2 cấp Thứ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng (từ tháng 12/2025); Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt - Nhật cấp Thứ trưởng (từ 2012); Đối thoại An ninh cấp Thứ trưởng (từ 2013) ; Đối thoại về an ninh biển.
Nhật Bản là nước tài trợ ODA và là đối tác hợp tác lao động lớn nhất, nhà đầu tư số 3, đối tác du lịch và thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.
Về thương mại: Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999. Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản luôn tăng trưởng ổn định, cân bằng, hiện đạt khoảng 52 tỷ USD (năm 2025), tăng gấp đôi so với năm 2014 (27,4 tỷ USD). Trong năm 2025, tổng kim ngạch thương mại hai nước, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2024.
Trong tháng 1/2026, kim ngạch thương mại hai nước đạt 4,87 tỷ USD, tăng 27,7% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật Bản đạt 2,53 tỷ USD, tăng 17,8%, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Nhật Bản đạt 2,34 tỷ USD, tăng 40,5%.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản: thủy sản, quần áo, giày dép, thiết bị điện/cơ khí, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa,…
Các mặt hàng chủ yếu nhập từ Nhật Bản: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, sản phẩm điện tử và linh kiện, sắt thép, linh kiện ô tô, hóa chất,…
Về đầu tư trực tiếp (FDI), tính lũy kế đến ngày 31/01/2026, Nhật Bản có 5722 dự án đầu tư có hiệu lực tại Việt Nam với tổng mức đầu tư đạt 78,9 tỷ USD, đứng thứ 3/153 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam (sau Hàn Quốc, Singapore).
Tính lũy kế đến ngày 31/01/2026, Việt Nam có 132 dự án đầu tư sang Nhật Bản với tổng vốn đăng ký đạt 47,2 triệu USD, chiếm 0,2% tổng vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài lũy kế của Việt Nam, đứng thứ 33/85 quốc gia và vùng lãnh thổ mà Việt Nam đầu tư ra nước ngoài (chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất và phân phối điện, khí, nước, điều hòa, bất động sản,…).
Đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam tập trung vào công nghệ chế biến chế tạo (61%), sản xuất phân phối điện (15%), kinh doanh bất động sản (12%), tập trung ở 33/34 tỉnh thành, theo thứ tự đầu tư nhiều nhất là TP.HCM, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai.
Về viện trợ phát triển chính thức ODA: Nhật Bản là nước cung cấp vốn vay bằng đồng Yên cho Việt Nam lớn nhất, tổng giá trị vay tính đến hết năm tài khóa 2025 là khoảng 2.550 tỷ Yên (tương đương hơn 23 tỷ USD), chiếm hơn 26% tổng vốn ký kết vay nước ngoài của Chính phủ.
ODA của Nhật Bản cho Việt Nam, tập trung vào: (i) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế; (ii) cải thiện về mặt xã hội và rút ngắn chênh lệch phát triển; (iii) bảo vệ môi trường ứng phó biến đổi khí hậu; (iv) nâng cao năng lực quản lý hành chính.
Việt Nam-Nhật Bản còn hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác như nông nghiệp, ứng phó biến đổi khí hậu, lao động, giáo dục, hợp tác địa phương, du lịch, y tế và các lĩnh vực mới.