Chúng tôi đến làng nghề khi mặt trời còn chưa kịp hong khô lớp sương mỏng đọng trên những tán cây ven đường. Những ngày giữa tháng Chạp - thời điểm mà thành phố đã bắt đầu tất bật vào vụ Tết, người làm nghề nơi đây bước vào những ngày chạy nước rút cuối cùng trong năm.
Con đường dẫn vào khu làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, nơi đang được định hình thành một “phố cổ du lịch” mới không ồn ã như trung tâm TP.HCM, nhưng lại có một thứ không khí rất riêng: Mùi gỗ mới cắt, mùi sơn, mùi bụi mịn của lớp vóc được mài dở… Tất cả quyện lại thành thứ hương vị mà ai từng ghé làng nghề những ngày giáp Tết sẽ không thể quên.
Đường vào làng sơn mài Tương Bình Hiệp (trước đây thuộc tỉnh Bình Dương, nay là phường Chánh Hiệp, TP.HCM).
Mùi Tết trong từng lớp sơn
Những dãy nhà thấp tầng với tường vàng, mái ngói nâu sẫm hiện ra dần sau khúc cua. Người địa phương bảo khu này đang được chỉnh trang để thành không gian du lịch kiểu “phố cổ” - nơi du khách không chỉ xem mà còn chạm vào nghề.
Buổi sáng, làng chưa đông khách. Nhưng bên trong các xưởng, nhịp làm việc đã rộn ràng. Tiếng máy chà gỗ rì rì, tiếng giấy nhám sột soạt trên bề mặt sản phẩm, tiếng người gọi nhau í ới chuyển hàng.
Âm thanh ấy không ồn, mà giống một bản hòa âm đều đặn, kiên nhẫn, như chính cái nghề sơn mài, thứ nghề đòi hỏi thời gian nhiều hơn cả sự vội vàng.
“Giờ này là làm không kịp thở đâu cô ơi. Hàng Tết mà", một người đàn ông cười, tay vẫn thoăn thoắt phủ lớp sơn lót lên khay gỗ.
Làng sơn mài Tương Bình Hiệp ngày 25 tháng Chạp - thợ tất bật chuẩn bị hàng Tết.
Chúng tôi bước vào một xưởng rộng chừng trăm mét vuông. Ánh sáng đèn neon hắt xuống những hàng kệ chất đầy khay, hộp, bình, tranh… đủ kích cỡ. Có món đã hoàn thiện, bóng loáng như gương. Có món mới chỉ là phôi gỗ thô, còn chờ hàng chục công đoạn phía trước.
Chị Ngọc Quý, 49 tuổi, đang ngồi mài vóc. Bàn tay chị đeo găng, nhưng các ngón vẫn sậm màu sơn. Mỗi vòng giấy nhám đi qua là một lớp bụi mịn rơi xuống, lấp lánh dưới ánh đèn.
Chị nói, làm sơn mài giống như nuôi một đứa con lâu năm. Phải “vuốt ve” nó qua từng lớp. Sơn mài không phải sơn một lần là xong. Mỗi sản phẩm có khi phải phủ cả chục lớp sơn, mỗi lớp lại phải chờ khô, mài phẳng, rồi mới tiếp tục. Có những món làm cả tháng mới hoàn thành.
“Cận Tết cực lắm, nhưng vui. Vì biết đồ mình làm ra sẽ có mặt trong nhà người ta mấy ngày đầu năm”, chị nói.
Câu nói ấy làm chúng tôi chững lại. Trong khi ngoài kia người ta tất bật mua sắm, trang hoàng, thì ở đây, Tết đến bằng từng lớp sơn đang khô dần trên mặt gỗ.
Đi sâu hơn vào khu làng nghề, chúng tôi gặp một nhóm bạn trẻ đang ngồi vẽ họa tiết trên nền sơn. Họ dùng cọ nhỏ, chấm từng nét vàng mảnh như sợi tóc. Cô gái khoảng ngoài 25 tuổi nói mình mới vào làm nghề được 3 năm. Trước đó, cô học thiết kế đồ họa, rồi về đây vì… “thích cảm giác làm cái gì đó bằng tay”.
Những người thợ "thổi hồn" vào tác phẩm sơn mài.
“Vẽ trên máy tính quen rồi, giờ chuyển qua vẽ trên sơn mài thấy chậm hơn nhiều, nhưng đã lắm”, cô cười. “Mỗi nét lỡ tay là sửa cực kỳ khó, nên mình học được cách kiên nhẫn".
Làng nghề không chỉ có những nghệ nhân lớn tuổi. Những người trẻ đang trở lại, mang theo tư duy mới về mẫu mã, màu sắc, thị hiếu khách hàng. Nhờ vậy, sản phẩm sơn mài giờ không chỉ là tranh treo tường hay đồ thờ, mà còn là khay trà hiện đại, hộp quà Tết tối giản, đồ decor cho căn hộ kiểu mới.
Một anh chủ xưởng nói nhỏ với chúng tôi: “Nếu làm kiểu cũ hoài thì khó sống lắm. Phải đổi, nhưng vẫn giữ hồn nghề".
Khoảng gần trưa, bắt đầu có những nhóm khách ghé tham quan. Có gia đình dắt theo trẻ nhỏ, có nhóm bạn trẻ đi chụp hình, có cả khách nước ngoài. Họ đi chậm dọc con đường lát gạch, dừng lại trước các gian trưng bày, tò mò nhìn những lớp sơn óng ánh dưới ánh đèn vàng.
Một bé trai tầm 7 - 8 tuổi sờ tay lên chiếc khay đỏ thẫm, hỏi mẹ: “Sao cái này bóng vậy?”. Người mẹ lúng túng, còn người bán hàng cười hiền: “Vì người ta mài nó mấy chục lần đó con". Câu trả lời giản dị nhưng chứa cả bề dày của một nghề thủ công.
Công đoạn phun bóng, bước cuối để hoàn thiện bức tranh sơn mài.
Chúng tôi để ý, nhiều xưởng đã bố trí không gian cho khách trải nghiệm: Thử mài, thử vẽ, thử dát vàng. Những thao tác tưởng đơn giản, nhưng chỉ vài phút là đủ để người ngoài hiểu, làm sơn mài không hề “nhẹ nhàng” như vẻ ngoài bóng bẩy của sản phẩm.
Một du khách nước ngoài sau khi thử mài một tấm vóc nhỏ đã thở hổn hển: “Too much patience! - Cần quá nhiều kiên nhẫn!”
Chủ xưởng cười: "Yes, lacquer needs time. Like love! - Đúng vậy, sơn mài cần thời gian. Giống như tình yêu!”
Cả xưởng bật cười. Nhưng câu nói đùa ấy lại đúng đến lạ.
Hơn nghìn sinh kế phía sau
Nếu chỉ lướt qua những kệ hàng bóng loáng, người ta dễ nghĩ sơn mài là câu chuyện của màu sắc và thẩm mỹ. Nhưng khi ngồi xuống lâu hơn, nghe kỹ hơn, chúng tôi nhận ra phía sau mỗi lớp sơn ấy là một mạng lưới sinh kế đan chằng chịt, âm thầm nuôi sống cả một cộng đồng.
Ở đây, hiếm ai làm một mình.
Sau khi phun bóng, tranh được đem hong khô.
Một sản phẩm sơn mài hoàn chỉnh thường đi qua tay rất nhiều người. Người chọn gỗ, người cưa xẻ làm phôi. Người làm vóc - công đoạn bọc vải, trét đất, tạo nền cho sản phẩm. Người chuyên pha sơn ta theo tỷ lệ bí truyền. Người dát vàng, người gắn vỏ trứng, người vẽ họa tiết, người mài, người đánh bóng. Cuối cùng mới tới khâu kiểm tra, đóng gói, giao hàng.
Mỗi công đoạn là một nghề nhỏ nằm trong nghề lớn.
Chúng tôi ghé một xưởng chuyên làm phôi gỗ cách khu trưng bày chính vài trăm mét. Trong không gian nồng mùi gỗ mới, tiếng máy cắt chạy đều, từng tấm gỗ được xẻ, bào, ghép thành hình khay, hộp, bình.
Anh chủ xưởng nói, gia đình anh ba đời làm mộc cho làng sơn mài. “Không có phôi chuẩn thì thợ sơn mài làm cực lắm. Gỗ cong, gỗ nứt là coi như hỏng cả quá trình mấy chục ngày sau đó", anh giải thích.
Xưởng anh có gần chục lao động, đa phần là người trong vùng. “Tụi tôi không trực tiếp vẽ hay phủ sơn, nhưng thiếu tụi tôi là làng nghề đứng lại", anh cười hiền.
Rời xưởng mộc, chúng tôi gặp một phụ nữ chuyên làm công đoạn tưởng rất nhỏ: Gắn vỏ trứng. Trên chiếc bàn thấp trước nhà, chị ngồi tỉ mẩn bẻ từng mảnh vỏ trứng vịt đã được làm sạch, dán lên mặt tranh thành những mảng trắng li ti.
“Công việc này không nặng, nên tôi làm tại nhà luôn. Mỗi ngày làm đều cũng được vài trăm nghìn, đủ phụ tiền chợ, tiền học cho con", chị kể.
Những người thợ chính tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp đều có thâm niên làm việc trên chục năm.
Chị không đứng trong danh sách “nghệ nhân”, cũng chẳng xuất hiện ở gian trưng bày nào. Nhưng nếu thiếu những mảnh vỏ trứng chị dán hôm nay, nhiều bức tranh sơn mài sẽ mất đi phần hồn rất riêng của chất liệu truyền thống.
Ở một góc khác của làng nghề, chúng tôi gặp nhóm lao động chuyên mài. Họ làm việc trong không gian luôn ẩm ướt để giữ độ ẩm cho sơn. Nước chảy róc rách trên bề mặt sản phẩm, giấy nhám đi tới đâu, lớp sơn lộ dần chiều sâu tới đó.
Ông Sáu, 65 tuổi, vừa mài vừa nói vui: “Tụi tôi là người làm lộ cái đẹp cho người ta thấy".
Ông bảo nghề mài cần sức tay và cả kinh nghiệm. Mài non thì chưa tới, mài quá tay là “ăn” mất lớp họa tiết bên dưới. “Lỡ tay một cái là công sức cả chục người trước đó đổ sông", ông nói, nhưng giọng không than vãn, chỉ như đang kể về một quy luật của nghề.
Không chỉ những người trực tiếp sản xuất, sinh kế từ làng nghề còn lan sang các dịch vụ ăn theo.
Quán cơm trưa ngay đầu làng đông khách nhất vào tầm 11h30. Chủ quán bảo khách chủ yếu là thợ trong các xưởng. Mùa cận Tết, họ làm tăng ca, quán tôi cũng bán gấp rưỡi ngày thường. Tiệm tạp hóa bên đường thì chất đầy găng tay, khẩu trang, giấy nhám, dung môi - những thứ tưởng nhỏ nhặt nhưng là vật tư không thể thiếu.
Một bức tranh sơn mài hoàn thiện, sẵn sàng tới tay khách hàng.
Khi khu vực này được đầu tư bài bản thành điểm du lịch làng nghề, dòng sinh kế ấy càng có cơ hội mở rộng. Ngoài thợ thủ công, sẽ cần thêm người làm hướng dẫn trải nghiệm, bán hàng lưu niệm, pha chế ở quán cà phê, giữ xe, dọn vệ sinh, chăm sóc cảnh quan…
Một cán bộ phụ trách văn hóa phường Chánh Hiệp nói với chúng tôi: “Mục tiêu không chỉ là giữ vài chục nghệ nhân giỏi, mà là tạo việc làm cho cả cộng đồng xung quanh. Khi du lịch vào, một người làm nghề có thể kéo theo hai, ba người khác có việc".
Con số “hơn nghìn lao động” vì thế không còn là thống kê khô khan. Nó hiện ra bằng những gương mặt cụ thể: Người đàn ông áo dính bụi gỗ, người phụ nữ tay lấm màu sơn, cô gái trẻ cặm cụi vẽ nét vàng, bà mẹ ngồi gắn vỏ trứng trước hiên nhà, anh giao hàng tất bật chất thùng lên xe tải chiều 22 Tết.
Chúng tôi hỏi một nghệ nhân lớn tuổi rằng ông mong gì nhất khi làng nghề được làm du lịch. Ông không nói về khách đông hay doanh thu cao.
“Chỉ mong tụi nhỏ còn muốn làm nghề. Mà muốn tụi nó làm thì phải sống được bằng nghề. Có thu nhập ổn định, có đầu ra, có người tới coi, tới mua - vậy là nghề còn”, ông chậm rãi.
Theo các chủ cơ sở, lượng hàng mùa Tết tăng gấp 3 ngày thường. Nhân công phải tăng cường làm đêm và cả ngày cuối tuần.
Giữa câu chuyện phát triển, bảo tồn, quy hoạch, những lời giản dị ấy như một điểm neo. Bởi suy cho cùng, lớp sơn có thể bóng nhờ kỹ thuật, nhờ thời gian. Nhưng làng nghề chỉ thực sự sáng lên khi phía sau nó là những cuộc sống được chống đỡ, được nuôi dưỡng từng ngày bằng chính đôi tay của người thợ.