Đóng

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong điều hành giao thông

Theo đề án được Thủ tướng phê duyệt, sẽ hoàn thiện nền tảng điều hành giao thông dựa trên dữ liệu và AI phục vụ phát hiện vi phạm, dự báo và điều phối giao thông.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 456 của Thủ tướng phê duyệt Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050" (Đề án).

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong điều hành giao thông.

Mục tiêu của Đề án là xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông theo mô hình thống nhất trên phạm vi toàn quốc; vận hành trên nền tảng dữ liệu dùng chung; từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân tích, dự báo và điều hành. Qua đó, đổi mới phương thức quản lý giao thông từ mô hình chủ yếu xử lý vi phạm sang mô hình điều hành chủ động dựa trên dữ liệu; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Mở rộng hệ thống camera giám sát bảo đảm trật tự, an toàn giao thông

Đề án phấn đấu đến năm 2030, mở rộng hệ thống camera giám sát bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, an ninh trật tự trên các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đường đô thị và các tuyến giao thông trọng điểm; từng bước mở rộng trên đường sắt và đường thuỷ nội địa.

Hoàn thiện nền tảng điều hành giao thông dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo phục vụ phát hiện vi phạm, phân tích, dự báo và điều phối giao thông theo thời gian thực.

Phát triển và cung cấp dịch vụ giao thông số phục vụ người dân, doanh nghiệp thông qua thiết bị di động và các nền tảng số theo quy định; góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực giao thông.

Hình thành nền quản trị giao thông quốc gia hiện đại

Đến năm 2050, hoàn thiện hệ thống quản trị giao thông số hiện đại, liên thông toàn quốc, bao phủ toàn bộ các tuyến đường bộ, đường sắt và đường thuỷ nội địa; nâng cấp năng lực công nghệ của Trung tâm cấp 1 và Trung tâm cấp 2 đạt trình độ tiên tiến, tự động hoá cao; ứng dụng hiệu quả dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong điều hành giao thông.

Hình thành nền quản trị giao thông quốc gia hiện đại, chủ động, có khả năng dự báo, phòng ngừa rủi ro; góp phần giảm tai nạn giao thông, hạn chế ùn tắc và nâng cao mức độ an toàn, thông suốt của hệ thống giao thông.

Đề án được triển khai trên phạm vi cả nước từ năm 2026 đến năm 2050, chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1 (2026-2028): Hình thành hệ thống, hoàn thiện nền tảng và đưa vào vận hành đồng bộ bước đầu;

Giai đoạn 2 (2029-2030): Mở rộng phạm vi triển khai, nâng cao năng lực điều hành dựa trên dữ liệu;

Giai đoạn 3 (2031-2050): Phát triển, hiện đại hoá và hoàn thiện hệ thống quản trị giao thông số.

Nhiệm vụ của Đề án là: Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông; phát triển hệ thống giám sát giao thông thông minh phục vụ quản lý, điều hành và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; quản lý, khai thác dữ liệu giao thông; quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai thực hiện Đề án...

Theo Đề án, Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông được xây dựng trở thành thiết chế quản trị giao thông quốc gia theo mô hình 2 cấp thống nhất, liên thông toàn quốc, giữ vai trò trung tâm trong chỉ huy, điều hành, giám sát, xử lý vi phạm và cung cấp dịch vụ công về giao thông; bảo đảm quản lý tập trung, điều hành linh hoạt theo địa bàn, kết nối thông suốt giữa trung ương và địa phương; từng bước chuyển đổi mô hình quản lý giao thông từ phân tán sang quản trị tích hợp dựa trên dữ liệu và công nghệ số; bảo đảm chỉ huy thống nhất, kịp thời, hiệu quả.

Trung tâm cấp 1 là Trung tâm thực hiện chức năng điều phối, tổng hợp, phân tích dữ liệu và hỗ trợ điều hành liên vùng đối với dữ liệu chuyên ngành về trật tự, an toàn giao thông, độc lập về hạ tầng; bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo quy định pháp luật trên cơ sở kế thừa, tích hợp và nâng cấp các hệ thống, cơ sở dữ liệu, nền tảng công nghệ đã đầu tư; hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung phục vụ toàn lực lượng và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Thực hiện lưu trữ, phân tích, xử lý tập trung các dữ liệu về giám sát giao thông, xử lý vi phạm, đăng ký và quản lý phương tiện, tai nạn giao thông, thiết bị giám sát hành trình và các hệ thống nghiệp vụ liên quan; phát triển các nền tảng, phần mềm dùng chung, hạ tầng dự phòng phục vụ điều hành thống nhất, ổn định, liên tục trên phạm vi toàn quốc.

Trung tâm cấp 2 được đầu tư, nâng cấp tại địa phương để trực tiếp quản lý, tổ chức vận hành theo phân cấp; bảo đảm đồng bộ, kết nối liên thông với Trung tâm cấp 1 và các Trung tâm cấp 2 khác; tổ chức đầu tư theo nhóm địa phương phù hợp với quy mô dân số, mật độ phương tiện, mức độ phức tạp về trật tự, an toàn giao thông và nhu cầu thực tiễn; bảo đảm hiệu quả đầu tư và khả năng mở rộng trong dài hạn.

Đề án xây dựng hệ thống giám sát giao thông thông minh tích hợp các nền tảng ứng dụng, thiết bị, phương tiện; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để tự động hoá, phục vụ chỉ huy, điều hành giao thông theo thời gian thực; hỗ trợ điều tra, xử lý tai nạn giao thông. Từng bước mở rộng phạm vi giám sát trên các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh, đô thị, đường sắt, đường thủy nội địa và các khu vực trọng điểm; bảo đảm khép kín tuyến, khép kín địa bàn theo lộ trình...

Kinh phí thực hiện

Kinh phí thực hiện Đề án được bảo đảm từ nguồn ngân sách Nhà nước và nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, bao gồm: nguồn đầu tư phát triển; nguồn chi thường xuyên; nguồn chi an ninh, trật tự, an toàn giao thông; nguồn kinh phí thu từ xử phạt vì phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ và đấu giá biển số xe sau khi nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định; nguồn ngân sách địa phương; các nguồn ngoài ngân sách Nhà nước như đóng góp, viện trợ và tài trợ của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong nước, ngoài nước.

Trong đó, giai đoạn 2026-2030, tổng kinh phí dự kiến khoảng 14.861 tỷ đồng (không bao gồm kinh phí vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và duy trì hoạt động thường xuyên của hệ thống).

Giai đoạn 2031-2050, căn cứ kết quả thực hiện giai đoạn trước và nhu cầu thực tế, tổ chức rà soát, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định bồ sung kinh phí theo quy định của pháp luật.

Kinh phí để thực hiện nhiệm vụ vận hành, sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng và duy trì hoạt động thường xuyên của hệ thống được bố trí từ nguồn chi thường xuyên theo quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước, bảo đảm khả năng vận hành 24/7 theo lộ trình.

Nguồn: Báo Chính phủ

Tin mới