Đóng

Tăng trưởng hai con số và lời giải bài toán 30 triệu tỷ đồng ngoài ngân sách Nhà nước

(VTC News) -

Khi ngân sách có hạn, mục tiêu tăng trưởng hai con số phụ thuộc vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả 30 triệu tỷ đồng ngoài Nhà nước.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, quy mô vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 được xác định khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, còn lại gần 30 triệu tỷ đồng phải huy động từ các nguồn lực khác.

Nhắc lại con số này tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV sáng 13/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực để bảo đảm tăng trưởng bền vững.

Từ yêu cầu thực tiễn đó, vấn đề không chỉ nằm ở việc tăng quy mô vốn, mà quan trọng hơn là thay đổi cách tiếp cận nguồn lực.

Không thể dựa vào nguồn vốn từ ngân sách

Trả lời Báo Điện tử VTC News, TS Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu, cho rằng con số 38,5 triệu tỷ đồng cho giai đoạn phát triển mới mà Trung ương tính toán không chỉ là một phép tính kinh tế, mà là một tín hiệu chính sách rất rõ ràng.

Khi ngân sách Nhà nước chỉ có thể đáp ứng 8,5 triệu tỷ đồng (chưa đến 1/4 nhu cầu), thì hơn 30 triệu tỷ đồng còn lại không đơn thuần là khoảng thiếu hụt mà là không gian buộc phải mở ra về tư duy phát triển.

"Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vì vậy không dừng ở câu chuyện cơ cấu lại nguồn vốn, mà đi thẳng vào một vấn đề cốt lõi hơn là thay đổi cách Nhà nước tham gia vào nền kinh tế", ông Hiếu nói.

Từ góc độ quản lý, bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, tổng vốn đầu tư giai đoạn tới cao gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025 (khoảng 17,4 triệu tỷ đồng). Điều này đòi hỏi vốn đầu tư toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân 16%/năm, nâng tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân từ khoảng 33% giai đoạn 2021-2025 lên khoảng 40% giai đoạn 2026-2030.

Theo bà Tâm, những năm gần đây, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức khoảng 32-34% GDP - một tỷ lệ tương đối cao đối với nền kinh tế đang phát triển.

Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia từng duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài như Hàn Quốc (35-38% GDP giai đoạn 1970-1990), Singapore (35-40% GDP), Trung Quốc (40-45% GDP giai đoạn 1990-2015), thì quy mô vốn đầu tư của Việt Nam chưa đủ để tạo bứt phá mạnh mẽ, đặc biệt là hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế.

Chính vì vậy, song song với việc tăng yêu cầu về quy mô, bài toán nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trở nên cấp thiết. Lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo giảm hệ số ICOR từ mức bình quân khoảng 6,3 giai đoạn 2021-2025 xuống còn khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026-2030. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn đầu tư để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước đây - phản ánh yêu cầu nâng cao chất lượng thể chế, công nghệ và quản trị.

ba-pham-thi-thanh-tam-11085067 (1).jpg

Trong thời gian tới, yêu cầu đa dạng hóa nguồn lực và phát huy tối đa vai trò khu vực tư nhân giữ vai trò rất quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Bà Phạm Thị Thanh Tâm

Xét về cơ cấu nguồn lực, bà Tâm nêu rõ, vốn đầu tư Nhà nước dự kiến tăng bình quân khoảng 22%/năm, khu vực ngoài Nhà nước khoảng 20%/năm và vốn đầu tư nước ngoài khoảng 18%/năm.

Cơ cấu này cho thấy tăng trưởng hai con số không thể dựa vào ngân sách, mà phụ thuộc vào sự bứt phá đồng thời của khu vực tư nhân và dòng vốn FDI chất lượng cao.

"Trong suốt những năm vừa qua, ngân sách Nhà nước đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc huy động và phân bổ nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên trong thời gian tới, yêu cầu đa dạng hóa nguồn lực và phát huy tối đa vai trò khu vực tư nhân giữ vai trò rất quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số", bà Phạm Thị Thanh Tâm nhấn mạnh.

Từ định hướng này, các giải pháp tài chính - ngân sách cũng được đặt ra theo hướng đồng bộ hơn.

Trước hết, bà Tâm cho rằng Việt Nam cần củng cố nền tảng thu ngân sách Nhà nước nhằm bảo đảm an toàn tài khóa và tạo dư địa cho đầu tư phát triển. Trọng tâm là hiện đại hóa quản lý thu, mở rộng cơ sở thuế, đồng thời bảo đảm tính công bằng và trung lập của hệ thống thuế.

Cùng với đó, cần triển khai hiệu quả Nghị quyết 79 của Bộ Chính trị về kinh tế Nhà nước, trong đó chú trọng theo dõi, đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu về sản lượng, doanh thu và đóng góp ngân sách của các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, nhằm bảo đảm mục tiêu thu ngân sách hằng năm của Chính phủ.

Ở phía chi ngân sách, yêu cầu đặt ra là cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, kiểm soát chặt chi thường xuyên và đẩy mạnh cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Việc phân bổ vốn phải gắn với kết quả đầu ra, đồng thời tăng cường giám sát, đánh giá sau đầu tư để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

Một trong những giải pháp quan trọng là thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) nhằm huy động nguồn lực cho các dự án hạ tầng lớn. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho giao thông, năng lượng và hạ tầng số ngày càng tăng, cơ chế PPP cần được thiết kế minh bạch, ổn định hơn, đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu để tạo niềm tin cho nhà đầu tư; đồng thời chuẩn hóa hợp đồng, nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án và bảo đảm lựa chọn nhà đầu tư cạnh tranh, công khai.

Song song với đó, thị trường vốn được kỳ vọng trở thành kênh huy động trung và dài hạn chủ lực của nền kinh tế. Theo bà Tâm, việc phát triển thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn và hiệu quả là yêu cầu cấp thiết, với mục tiêu đưa quy mô vốn hóa đạt ít nhất 100% GDP vào năm 2026.

Bên cạnh đó, thu hút và nâng cao chất lượng vốn đầu tư nước ngoài cũng là một trong ba trụ cột quan trọng trong tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030. Chính sách tài chính cần hướng tới thu hút có chọn lọc các dự án FDI công nghệ cao, thân thiện môi trường, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước nhằm lan tỏa công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất.

Tuy nhiên, xuyên suốt các giải pháp, yếu tố quyết định vẫn là hiệu quả sử dụng vốn. Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, để nguồn vốn đầu tư thực sự tạo ra tăng trưởng bền vững, cần tiếp tục cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình phê duyệt dự án và bảo đảm tính ổn định của chính sách.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV sáng 13/4.

Nguồn lực lớn nhất trong dân là trí tuệ

Trong một thời gian dài, mô hình phát triển quen thuộc vẫn đặt Nhà nước vào vị trí trung tâm của đầu tư - vừa thiết kế, vừa phân bổ, vừa trực tiếp thực hiện. Mô hình này từng phát huy hiệu quả trong giai đoạn nguồn lực xã hội còn hạn chế, khu vực tư nhân chưa đủ mạnh.

Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi quy mô nền kinh tế đã mở rộng, khu vực doanh nghiệp tư nhân và dòng vốn quốc tế ngày càng lớn, việc tiếp tục "ôm" vai trò nhà đầu tư trực tiếp không chỉ tạo áp lực lên ngân sách, mà còn làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực.

Thông điệp "một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước" của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là một sự khẳng định dứt khoát rằng mô hình cũ đã đến giới hạn.

Từ góc nhìn của cơ quan lập pháp, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, cho rằng không thể đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn vận hành bằng lối tư duy cũ, dựa vào cái sẵn có, theo quán tính phân bổ nguồn lực, trông chờ vào ngân sách, đất đai hay đầu tư công như những "cứu cánh" gần như duy nhất.

Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững phải biết tạo lập nguồn lực mới, kích hoạt động lực mới, mở rộng không gian phát triển, thay vì chỉ phân chia lại phần đang có.

dbqh bui hoai son 1.jpg

Thứ người dân cần nhiều khi chỉ là một thủ tục gọn hơn để mở rộng sản xuất, một chính sách minh bạch hơn để yên tâm đầu tư, một bộ máy giải quyết công việc nhanh hơn để đỡ mất chi phí không tên.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Theo ông Sơn, đây là thay đổi quan trọng trong tư duy điều hành. Khi Nhà nước không chỉ là người bỏ vốn mà đóng vai trò thiết kế "sân chơi", định hình thể chế, dẫn dắt tín hiệu, giảm rủi ro ban đầu và tạo dựng niềm tin để xã hội cùng tham gia, sức mạnh phát triển sẽ được nhân lên.

"Khi vốn nhà nước được sử dụng như 'vốn mồi' thay vì gánh vác toàn bộ đầu tư trực tiếp, khi khu vực tư nhân được tạo điều kiện để phát huy, khi dòng vốn được hướng đúng vào sản xuất, đổi mới sáng tạo, hạ tầng thiết yếu và các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao, nền kinh tế sẽ bớt lệ thuộc hơn vào những nguồn lực hữu hạn và tăng thêm khả năng tự cường", ông Sơn nhấn mạnh.

Ở một tầng nghĩa sâu hơn, theo ông Sơn, nguồn lực lớn nhất của quốc gia không chỉ nằm trong ngân sách mà nằm trong dân. Không chỉ là tiền bạc, đó còn là trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên của hàng chục triệu người.

Khi người dân nhìn thấy cơ hội thực chất, doanh nghiệp nhận diện được một môi trường thể chế ổn định, minh bạch; khi hộ kinh doanh không còn bị "kẹt" trong chi phí tuân thủ nặng nề; khi sáng kiến được khuyến khích thay vì bị cản trở, xã hội sẽ tự sản sinh một nguồn năng lượng phát triển to lớn. Đây là dạng "năng lượng mềm" khó đo đếm bằng các bảng cân đối tài chính, nhưng lại có ý nghĩa quyết định đối với sức bật của nền kinh tế.

"Người dân không đòi hỏi quá nhiều những điều to tát. Thứ họ cần nhiều khi chỉ là một thủ tục gọn hơn để mở rộng sản xuất, một chính sách minh bạch hơn để yên tâm đầu tư, một con đường thông suốt hơn để hàng hóa lưu chuyển, một bộ máy giải quyết công việc nhanh hơn để đỡ mất chi phí không tên, một môi trường công bằng hơn để nỗ lực được đền đáp", vị đại biểu Quốc hội bày tỏ.

Và khi hàng triệu con người cùng nhận được những điều tưởng nhỏ ấy, kết quả cộng lại sẽ không nhỏ. Đó chính là cách sức dân được khơi thông và trở thành nền móng thật sự cho tăng trưởng.   

Anh Văn

Tin mới