Ý chính trong bài:
Quản trị xã, phường triệu dân
- Hướng tới mô hình đô thị hiện đại, hạ tầng đồng bộ, dịch vụ công thông minh và quản trị bằng dữ liệu số.
- Người dân có thể sử dụng phần lớn dịch vụ công trực tuyến, theo dõi và đánh giá hoạt động của chính quyền.
- Thách thức lớn nhất là giữ được “độ gần dân” trong không gian đô thị khổng lồ, tránh tình trạng bộ máy xa cơ sở.
- Mô hình quản trị phải chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, tăng phân quyền và duy trì kết nối cộng đồng.
Cấu trúc “trên lớn - dưới nhỏ”
- Cấp phường có thể rất lớn, quy mô từ hàng trăm nghìn đến hàng triệu dân.
- Bên dưới vẫn phải chia thành tổ dân phố, cụm dân cư, tiểu khu để bám sát địa bàn.
- Cán bộ cơ sở phải đủ gần dân để nắm bắt tâm tư, xử lý nhanh các vấn đề phát sinh.
- Mô hình kết hợp quản trị số với mạng lưới cơ sở truyền thống nhằm giữ sự gắn kết giữa chính quyền và người dân.
Từ 'làng xã cách mạng' đến quản trị xã, phường triệu dân
Mô hình “phường, xã xã hội chủ nghĩa” quy mô 500.000 đến 1 triệu dân, được đầu tư đồng bộ hạ tầng, trường học, bệnh viện, không gian công cộng và đô thị thông minh sẽ hướng tới mô hình quản trị số, cung cấp dịch vụ công hiện đại và nâng cao chất lượng sống người dân. Tuy nhiên, cùng kỳ vọng về bộ máy hiện đại là thách thức lớn về quản trị đô thị, xây dựng Đảng và giữ “độ gần dân”.
Trả lời phóng viên Báo Điện tử VTC News, Thiếu tướng PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho rằng, cần nhìn lại kinh nghiệm lịch sử tổ chức chính quyền cơ sở của Đảng và Nhà nước ta trong suốt tiến trình cách mạng.
Mô hình “phường, xã xã hội chủ nghĩa” được kỳ vọng hướng tới đô thị hiện đại, quản trị thông minh và nâng cao chất lượng sống người dân.
Theo Thiếu tướng PGS.TS Nguyễn Văn Sáu, từ khi có Đảng lãnh đạo, việc tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở luôn vận động linh hoạt theo yêu cầu từng thời kỳ, song xuyên suốt vẫn là mục tiêu bảo đảm hiệu lực quản lý gắn với “gần dân, trọng dân, vì dân”.
"Ở giai đoạn giành chính quyền (1945 - 1954), chính quyền cách mạng được thiết lập từ cơ sở làng, xã với các hình thức như Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân sơ khai. Bộ máy khi đó được tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt, dựa nhiều vào uy tín cán bộ và các đoàn thể cứu quốc để bám dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh quần chúng.
Đến thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước (1954 - 1975), hệ thống Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân các cấp tiếp tục được chuẩn hóa, phân cấp quản lý rõ ràng hơn".
Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu, dù tăng tính pháp lý và kỷ cương, bộ máy vẫn duy trì cơ chế liên hệ mật thiết với Nhân dân thông qua các tổ chức quần chúng.
"Sau năm 1975, mô hình quản lý tập trung, thống nhất được áp dụng trên phạm vi cả nước. Giai đoạn này bảo đảm tính thống nhất điều hành, song cũng bộc lộ hạn chế khi có thời điểm bộ máy trở nên cồng kềnh, hiệu quả chưa cao và có biểu hiện xa dân", Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cho biết.
Bước ngoặt lớn xuất hiện từ công cuộc Đổi mới năm 1986. Cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho cơ sở được thúc đẩy.
Quy chế dân chủ ở cơ sở từng bước được hoàn thiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Nhiều mô hình quản trị mới được thí điểm nhằm hướng tới xây dựng chính quyền phục vụ, tăng tương tác và đối thoại với Nhân dân.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu, những bài học lịch sử này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay, khi quá trình đô thị hóa nhanh và áp lực dân số lớn đang đặt ra yêu cầu tổ chức lại đơn vị hành chính theo hướng hiện đại hơn.
Người dân sử dụng robot AI hỗ trợ, tư vấn các thủ tục hành chính tại Chi nhánh số 01 Trung tâm Phục vụ hành chính công TP Hà Nội.
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam cũng cho rằng điểm cốt lõi trong gợi mở về “phường, xã xã hội chủ nghĩa” không chỉ nằm ở quy mô dân số lớn, mà ở việc hình thành một mô hình quản trị đô thị mới, nơi hạ tầng xã hội, dịch vụ công và chất lượng sống của người dân được đặt ở vị trí trung tâm.
Khác với nhiều khu đô thị phát triển theo hướng mở rộng cơ học hoặc thiên về bất động sản đơn thuần, mô hình này hướng tới phát triển đồng bộ giữa hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội.
Trường học, bệnh viện, giao thông công cộng, không gian xanh, trung tâm văn hóa, khu vui chơi hay các tiện ích thiết yếu sẽ được quy hoạch đồng bộ ngay từ đầu thay vì phát triển chắp vá.
Không gian đô thị hiện đại với hạ tầng giao thông, cây xanh và khu dân cư được quy hoạch đồng bộ tại Hà Nội. Đây được xem là một trong những nền tảng để hình thành mô hình “phường, xã xã hội chủ nghĩa” trong tương lai.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu, nếu được tổ chức hợp lý, mô hình “phường, xã xã hội chủ nghĩa” quy mô lớn hoàn toàn có thể trở thành một không gian quản trị hiện đại, nơi người dân được phục vụ nhanh hơn, tiếp cận hạ tầng và dịch vụ công đồng đều hơn.
Trong hình dung về mô hình này, trung tâm điều hành số sẽ đóng vai trò như “bộ não” của đô thị. Dữ liệu dân cư, phản ánh hiện trường, an ninh, giao thông hay hạ tầng kỹ thuật được kết nối và xử lý theo thời gian thực.
Người dân có thể thực hiện phần lớn dịch vụ công trực tuyến, theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ qua ứng dụng số và đánh giá trực tiếp mức độ hài lòng đối với cơ quan công quyền.
Tuy nhiên, vị chuyên gia cho rằng quy mô lớn chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng một phương thức quản trị hoàn toàn khác so với mô hình hành chính truyền thống.
“Thách thức lớn nhất không nằm ở dân số đông hay địa bàn rộng, mà là làm sao giữ được ‘độ gần dân, sát dân, trọng dân, nghe dân’ trong một không gian đô thị ngày càng lớn và phức tạp”, ông nhận định.
Cấu trúc “trên lớn - dưới nhỏ”
Từ góc độ đó, Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu cho rằng mô hình “siêu phường” trong tương lai khó có thể vận hành theo kiểu quản lý tập trung cứng như trước đây, mà phải được tổ chức theo cấu trúc “trên lớn - dưới nhỏ”.
Dù cấp phường có quy mô hàng trăm nghìn hay hàng triệu dân, bên dưới vẫn cần chia thành các cụm dân cư, tổ dân phố hoặc tiểu khu với cán bộ phụ trách rõ địa bàn, đủ khả năng tiếp xúc trực tiếp và xử lý nhanh các vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Cán bộ Hà Nội tiếp nhận hồ sơ và hướng dẫn người cao tuổi thực hiện kê khai trực tuyến ngay tại nhà. (Ảnh: Trung tâm phục vụ hành chính công Hà Nội)
Không chỉ thay đổi về quy mô tổ chức, cách vận hành của bộ máy cũng sẽ phải chuyển mạnh sang quản trị bằng dữ liệu. Chính quyền không còn xử lý công việc chủ yếu dựa trên hồ sơ hành chính truyền thống, mà vận hành theo dữ liệu số thời gian thực, từ dân cư, an ninh, giao thông cho tới các phản ánh dân sinh hằng ngày.
Song song với đó là yêu cầu phân quyền mạnh hơn cho tuyến cơ sở. Những vấn đề liên quan trực tiếp đến người dân cần được giải quyết ngay tại nơi gần dân nhất thay vì dồn lên cấp trên. Điều này đòi hỏi cấp cơ sở phải được trao đủ thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu, mô hình “siêu phường” tương lai cũng cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”.
thieu-tuong-nguyen-van-sau (1).jpg
Không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính, mà phải quản trị theo dữ liệu, theo cộng đồng và theo dịch vụ.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu
“Không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính, mà phải quản trị theo dữ liệu, theo cộng đồng và theo dịch vụ”, ông Sáu nói.
Cùng với đổi mới phương thức điều hành là yêu cầu tái cấu trúc tổ chức Đảng ở cơ sở. Trong không gian đô thị quy mô lớn, tổ chức Đảng cần được thiết kế theo mô hình đa tầng, đa trung tâm; vừa bảo đảm năng lực lãnh đạo thống nhất, vừa duy trì khả năng bám sát địa bàn, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân.
Theo ông, quy mô lớn sẽ tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức. Nếu vận hành hiệu quả, “siêu phường” có thể giúp tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế và dịch vụ công chất lượng cao.
Nhưng ngược lại, nếu thiếu cơ chế phân quyền hợp lý và các kênh kết nối trực tiếp với người dân, khoảng cách giữa chính quyền với cơ sở có thể bị kéo giãn.
"Nguy cơ lớn nhất là sự “đứt gãy mạch nối xã hội”, khi các tổ dân phố, đoàn thể hoặc thiết chế cộng đồng không còn đủ “độ phủ” để duy trì sự gắn kết trong không gian đô thị khổng lồ.
Bởi vậy, bên cạnh công nghệ và hạ tầng hiện đại, việc duy trì các tổ dân phố, ban công tác mặt trận và các đoàn thể quần chúng vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây được xem là những “cánh tay nối dài”, vừa truyền đạt chủ trương, vừa phản ánh trung thực tiếng nói của người dân tới chính quyền", PGS.TS Nguyễn Văn Sáu nhận định.
Ở góc độ chiến lược quốc phòng và lịch sử quân sự, Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu cũng nhấn mạnh quy hoạch đô thị hiện đại phải gắn với quốc phòng, an ninh và thế trận lòng dân ngay từ đầu.
Theo đó, hạ tầng giao thông, thông tin, y tế, năng lượng hay hậu cần không chỉ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, mà còn phải có khả năng chuyển trạng thái nhanh khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh hoặc các tình huống khẩn cấp.
“Quy hoạch đô thị hiện đại chỉ bền vững khi gắn chặt với quốc phòng, an ninh và lòng dân. Làm tốt sự kết hợp này sẽ tạo ra đô thị vừa phát triển, vừa an toàn, vừa có khả năng phòng thủ vững chắc ngay từ cơ sở”, Thiếu tướng Nguyễn Văn Sáu khẳng định.