Tháng 3/2026, tại Bệnh viện E, GS.TS Nguyễn Tài Sơn và con gái - TS.BS Nguyễn Hồng Nhung phẫu thuật phục hồi khuôn mặt cho nữ bệnh nhân Đỗ Thị Xuân T (44 tuổi, Hải Phòng).
Chị T bị liệt mặt bên trái từ khi khoảng 2 tuổi. Do các cơ mặt mất vận động trong thời gian dài, khuôn mặt dần bị kéo lệch. Khi còn nhỏ, sự khác biệt chưa quá rõ rệt, nhưng theo thời gian, các cơ bị liệt bắt đầu teo đi, mất trương lực, khiến khuôn mặt ngày càng sa trễ, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý.
GS Sơn và con gái thăm khám cho bệnh nhân.
20 năm trước, bệnh nhân từng được GS.TS Nguyễn Tài Sơn - Nguyên Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 thực hiện bước phẫu thuật đầu tiên là đặt thần kinh xuyên mặt (kỹ thuật giúp dẫn truyền tín hiệu từ bên mặt lành sang bên bị liệt, tạo nền tảng cho việc phục hồi vận động).
Theo phác đồ, sau 6 - 9 tháng, khi dây thần kinh phục hồi, bệnh nhân tiếp tục phẫu thuật lần hai là ghép cơ và nối thần kinh. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh cá nhân, chị T không quay lại để hoàn tất giai đoạn điều trị tiếp theo.
20 năm trôi qua, tình trạng liệt kéo dài khiến các cơ mặt teo nặng hơn, cơ hội phục hồi trở nên khó khăn hơn. Những khó khăn trong giao tiếp, công việc cùng sự tự ti tích tụ khiến chị quyết định đi khám lại.
Sau khi thăm khám, các bác sĩ nhận định đây là ca bệnh phức tạp do tổn thương kéo dài nhiều năm. Ê-kíp quyết định thực hiện ghép cơ thon tự do kết hợp nối nhiều nguồn thần kinh - phương pháp vi phẫu hiện đại giúp tăng khả năng phục hồi vận động cơ mặt so với việc chỉ sử dụng một nguồn thần kinh như trước đây.
GS.TS Nguyễn Tài Sơn cùng TS, bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung trực tiếp thăm khám, đánh giá tình trạng tổn thương sau nhiều năm. Trước thực tế các cơ mặt teo nhiều, mất trương lực, hai cha con cùng ê-kíp hội chẩn, cân nhắc kỹ lưỡng và thống nhất lựa chọn phương án phẫu thuật ghép cơ thon tự do kết hợp nối nhiều nguồn thần kinh nhằm tối ưu khả năng phục hồi vận động cho người bệnh.
Ca mổ kéo dài, đòi hỏi kỹ thuật cao và sự phối hợp chặt chẽ của toàn bộ ê-kíp, nhưng đã được thực hiện thành công, mở ra cơ hội cải thiện chức năng và thẩm mỹ cho người bệnh sau nhiều năm chờ đợi.
Hai cha con TS Nhung cùng thực hiện chung ca mổ.
Đam mê vi phẫu dẫn lối con gái theo bước cha
GS.TS Nguyễn Tài Sơn cho biết, từ khi BS Nhung còn nhỏ, hai vợ chồng ông muốn con theo làm phẫu thuật viên chuyên ngành mắt bởi tính chất công việc nhẹ nhàng, phù hợp hơn với phụ nữ, nhưng niềm đam mê vi phẫu khiến chị lựa chọn con đường ngoại khoa.
Trong những năm học y tại Nga (2003–2010), mỗi dịp hè trở về thực tập tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chị thường có mặt trong phòng mổ, chứng kiến nhiều ca phẫu thuật phức tạp. “Tôi thấy bác sĩ thật kỳ diệu khi có thể mang lại cơ hội sống và thay đổi cuộc đời cho người bệnh,” chị từng chia sẻ về cơ duyên đến với vi phẫu.
Hành trình theo đuổi ngoại khoa không hề dễ dàng, đặc biệt với một bác sĩ nữ. Có những giai đoạn chị gần như ở bệnh viện cả tuần, chỉ về nhà thay quần áo. Những ca mổ kéo dài từ sáng đến tối, thậm chí xuyên đêm, dần trở thành điều quen thuộc trước khi có thể làm việc độc lập.
Đến nay, BS Nhung tham gia và thực hiện hơn 1.000 ca phẫu thuật, mỗi bệnh nhân là một câu chuyện riêng. Có những người mang khối u lớn, đau đớn và mặc cảm; có người suy sụp khi nhận chẩn đoán ung thư, cần bác sĩ không chỉ điều trị mà còn động viên tinh thần để tiếp tục chiến đấu với bệnh tật.
“Không phải mổ xong là kết thúc. Bệnh nhân cần được theo dõi, chăm sóc và đồng hành rất lâu sau đó. Làm nghề y càng thấy mình cần thấu hiểu và chia sẻ để người bệnh an tâm hơn,” BS Nhung nói.
Trong gia đình, câu chuyện nghề không chỉ dừng lại ở bệnh viện mà còn tiếp nối trong những bữa cơm tối, khi hai cha con cùng trao đổi về những ca bệnh khó, những điều còn trăn trở trong chuyên môn. Hai cha con GS Sơn cũng cùng đứng chung trên bàn mổ, mỗi lần như vậy là một lần TS Nhung được học hỏi từ cha rất nhiều kiến thức thực tế.
"Tôi rất vui khi dịp này hai cha con cùng đứng chung một bàn mổ, khép lại phần việc còn dang dở suốt gần 20 năm cho một người bệnh. Với chúng tôi, niềm vui lớn nhất vẫn là khoảnh khắc bệnh nhân có thể rời viện, trở về cuộc sống bình thường, tự tin hơn với chính mình - điều giản dị nhưng là đích đến của mọi nỗ lực trong nghề y" - TS Nhung chia sẻ.