Trước những vướng mắc trong quá trình thực thi do Nghị định 21/2015/NĐ-CP quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn và Nghị định 18/2014/NĐ-CP quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang Dự thảo Nghị định quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản với cái nhìn toàn diện hơn, cụ thể hơn ở từng lĩnh vực, tạo điều kiện cho các thành phần sáng tạo có tiếng nói độc lập trong ê kíp sáng tạo.
Dự thảo quy định chi tiết, cụ thể về tiền bản quyền đối với tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn. (Ảnh minh họa: H.Thanh)
Dự thảo đề xuất, tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo tác phẩm bằng nguồn kinh phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ trong các lĩnh vực: điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản.
Bên cạnh đó, tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyềnliên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý trong các lĩnh vực: điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản;
Quy định chung về việc trả tiền bản quyền được Dự thảo gồm:
1. Tác phẩm được sáng tạo theo phương thức đặt hàng, giao nhiệm vụ,đấu thầu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ thì tiền bản quyền được trả theo hợp đồng đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu theo quy định của pháp luật.
2. Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý theo thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu và bên khai thác, sử dụng.
3. Mức tiền bản quyền căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 44a của Luật Sở hữu trí tuệ, được quy định cụ thể tại các chương II, III, IV, V và VI của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan.
4. Tiền bản quyền khuyến khích là khoản tiền bản quyền được trả thêm cho tác giả, chức danh sáng tạo khác đối với tác phẩm thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; tác phẩm thuộc loại hình nghệ thuật truyền thống, bao gồm: tuồng, chèo, cải lương, kịch dân ca, múa rối; tác phẩm thuộc loại hình giao hưởng, Opera, kịch múa (ba lê), xiếc; tác phẩm thuộc thể loại phóng sự điều tra; tác phẩm dành cho người khuyết tật;
b) Tác giả là công dân Việt Nam sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng nước ngoài; tác giả là người dân tộc Kinh sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số, người dân tộc thiểu số này sáng tạo, nói, viết trực tiếp bằng tiếng dân tộc thiểu số khác hoặc sáng tạo, nói, viết tác phẩm trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm;
c) Quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý được khai thác, sử dụng và có lợi nhuận thì tác giả, chức danh sáng tạo khác đối với tác phẩm được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích theo thỏa thuận trên cơ sở đóng góp nhưng tổng số không quá 10% lợi nhuận thu được.
5. Việc phân chia tiền bản quyền giữa các tác giả, các chủ sở hữu quyền tác giả, các người biểu diễn, các chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 12a, khoản 1, 2 Điều 44a của Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.
6. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh thì chủ sở hữu quyền tác giả của một hoặc nhiều tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh được hưởng một phần trên tổng số tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh.
7. Số tiền bản quyền thu được từ việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu phải nộp về ngân sách nhà nước sau khi trừ đi các khoản chi phí có liên quan đến việc tổ chức khai thác, sử dụng, thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước (nếu có) theo quy định của Nghị định này, pháp luật chuyên ngành, pháp luật về ngân sách nhà nước, quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật khác có liên quan. Cơ quan đại diện thực hiện quyền chủ sở hữu chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng số tiền bản quyền thu được từ việc khai thác, sử dụng và xác định số tiền nộp ngân sách nhà nước.
8. Số tiền bản quyền thu được từ việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện quản lý thực hiện theo quy định tại khoản 8 Điều 23 của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.9. Trên cơ sở quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật có liên quan, tổ chức, cá nhân lập dự toán, thanh toán và quyết toán kinh phí trả tiền bản quyền, tiền bản quyền khuyến khích trong phạm vi nguồn kinh phít huộc ngân sách nhà nước và nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, thu từ việc cho phép khai thác, sử dụng các quyền tác giả, quyền liên quan, nguồn tài trợ của các tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài các quy định chung như trên, Dự thảo còn đề xuất các quy định riêng, cụ thể, chi tiết cho từng lĩnh vực: tiền bản quyền đối với tác phẩm điện ảnh, tiền bản quyền đối với tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh; tiền bản quyền đối với tác phẩm sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác; tiền bản quyền đối với tác phẩm báo chí và tiền bản quyền đối với tác phẩm trong xuất bản.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.